Keo và chất trám khe

Độ phủ keo dán gạch khổ lớn: cách kiểm tra ngay ngày mai

Với gạch từ 60 × 60 cm trở lên, một vùng rỗng dưới viên gạch không còn là lỗi thẩm mỹ đơn giản. Đó là điểm gián đoạn liên kết. Tải trọng bị dồn cục bộ. Ứng suất va đập không được truyền đều xuống nền.

Độ phủ keo dán gạch khổ lớn: cách kiểm tra ngay ngày mai

Sau một thời gian, viên gạch có thể phát tiếng bộp, nứt cạnh, bong khỏi nền hoặc vỡ ngay tại vùng thiếu keo.

Độ phủ keo dán gạch khổ lớn vì vậy phải được kiểm tra trực tiếp trên viên gạch vừa đặt. Không thể nhìn các đường keo còn lại trên nền rồi suy đoán rằng mặt sau viên gạch đã được tiếp xúc đầy đủ. Cách kiểm tra có giá trị nhất tại công trường là nhấc thử viên gạch lên, quan sát vệt keo bám trên mặt sau và đối chiếu với vùng keo đã kéo trên nền.

Gạch 60 × 60 cm, 80 × 80 cm, 60 × 120 cm, 80 × 120 cm hay 100 × 100 cm đều tạo ra yêu cầu thi công cao hơn gạch kích thước nhỏ. Diện tích tiếp xúc lớn. Sai số độ phẳng nền bị khuếch đại. Thời gian điều chỉnh viên gạch ngắn hơn. Nếu lớp keo bị đứt đoạn hoặc bị bẫy khí, khuyết tật sẽ nằm kín dưới bề mặt hoàn thiện và chỉ lộ ra sau khi công trình đã chịu tải.

Gạch khổ lớn làm lộ toàn bộ điểm yếu của lớp keo

Một viên gạch nhỏ có thể vẫn đứng ổn định dù bên dưới tồn tại một số vùng keo không liên tục. Gạch khổ lớn không cho phép cách thi công đó. Bản thân viên gạch có thể cứng, nặng và ít biến dạng. Nhưng nền bê tông, lớp vữa cán, tường xây và lớp keo lại có module đàn hồi khác nhau. Khi nhiệt độ, độ ẩm hoặc tải trọng thay đổi, các lớp không chuyển vị đồng nhất.

Khi liên kết bị thiếu, cơ chế phá hủy thường diễn ra theo chuỗi:

  • Nền và viên gạch co giãn khác nhau, tạo ra ứng suất kéo và ứng suất cắt tại mặt tiếp xúc.
  • Vùng rỗng bên dưới không truyền tải đều. Lực bị dồn sang các điểm còn bám dính.
  • Mép viên gạch chịu va đập lớn hơn, đặc biệt tại khu vực lối đi, chân tường, bậc thang hoặc nơi đặt vật nặng.
  • Các đường gờ keo bị nghiền, trượt hoặc mất liên tục.
  • Âm thanh bộp xuất hiện trước. Bong, nứt và vỡ thường xuất hiện sau.

Đây là lý do không nên đánh giá chất lượng bằng việc viên gạch có nằm phẳng ngay sau khi đặt hay không. Một viên gạch có thể phẳng nhưng vẫn thiếu liên kết ở mặt sau. Một bề mặt hoàn thiện nhìn kín mạch vẫn có thể chứa các khoang rỗng có khả năng phát triển thành điểm phá hủy.

Cường độ bám dính của keo cũng phải được đặt đúng vào bối cảnh. Theo phân hạng trong TCVN 7899-1:2008, tương ứng hệ tiêu chuẩn ISO 13007-1, keo nhóm C2 có cường độ bám dính tối thiểu từ 1,0 MPa. Mức này cao hơn ngưỡng tối thiểu 0,5 MPa của keo nhóm C1 thông thường.

Phân hạng keoCường độ bám dính tối thiểuBối cảnh sử dụng
C1≥ 0,5 MPaCác điều kiện dán gạch thông thường, khi kích thước và yêu cầu biến dạng không quá cao
C2≥ 1,0 MPaGạch khổ lớn và các vị trí cần năng lực liên kết cao hơn, theo yêu cầu của hệ vật liệu và nhà sản xuất

Con số 1,0 MPa không tự động biến một quy trình thi công sai thành quy trình đạt chuẩn. Keo C2 vẫn thất bại nếu nền còn bụi, lớp keo bị khô mặt, răng cưa bị kéo sai hướng hoặc mặt sau viên gạch không được phủ lớp keo bổ sung.

Keo có cường độ bám dính cao không thể cứu một bề mặt tiếp xúc bị đứt đoạn. Liên kết chỉ mạnh tại nơi keo thực sự tiếp xúc và đóng rắn đúng điều kiện.

Trét keo 2 mặt là yêu cầu kỹ thuật, không phải thao tác phụ

Với gạch kích thước từ 60 × 60 cm trở lên, phương pháp trét keo 2 mặt phải được xem là quy trình bắt buộc. Lớp keo được kéo bằng bay răng cưa trên nền. Đồng thời, một lớp keo mỏng được xoa đều ở mặt sau viên gạch.

Hai lớp này có chức năng khác nhau.

Lớp keo trên nền tạo chiều dày làm việc và các đường gờ đồng đều. Lớp keo ở mặt sau viên gạch bù vào các sai khác nhỏ của bề mặt, phá vỡ lớp bụi mịn còn sót lại và tăng khả năng tiếp xúc giữa hai mặt. Khi viên gạch được đặt xuống rồi rung hoặc ép đúng cách, các đường gờ keo có điều kiện dàn đều hơn.

Nếu chỉ kéo keo trên nền, mặt sau viên gạch có thể không nhận đủ keo tại các vùng lõm, vùng cong nhẹ hoặc khu vực bị cản bởi bụi. Các đường keo trên nền vẫn nhìn rõ sau khi nhấc viên gạch, nhưng đó không phải bằng chứng cho độ phủ thực tế ở mặt sau.

Nếu chỉ xoa keo ở mặt sau mà không tạo lớp keo có kiểm soát trên nền, chiều dày keo dễ bị thiếu hoặc phân bố không đồng nhất. Viên gạch có thể bị kê trên các điểm cao. Khi chịu lực, lớp keo bị nén cục bộ và mất ổn định.

Cách kéo bay răng cưa keo dán gạch

Bay răng cưa không được kéo tùy ý theo nhiều hướng. Các đường keo cần được tạo thành những gờ liên tục, đồng đều và cùng hướng. Khi ép viên gạch theo hướng vuông góc với đường keo, không khí có cơ hội thoát ra ngoài. Nếu các đường gờ bị cắt vụn, xoắn chéo hoặc tạo thành nhiều vòng kín, bọt khí dễ bị khóa lại dưới viên gạch.

Trình tự kỹ thuật nên được kiểm soát như sau:

1. Trải keo lên nền bằng cạnh răng cưa. Bay phải được giữ với góc ổn định để chiều cao đường gờ không thay đổi đột ngột. Không cào đi cào lại đến khi keo bắt đầu mất khả năng tạo liên kết.

2. Xoa một lớp keo mỏng lên mặt sau viên gạch. Lớp này cần phủ đều, không tạo các ụ keo riêng lẻ. Mục tiêu là tạo tiếp xúc liên tục giữa mặt sau và lớp keo trên nền.

3. Đặt viên gạch vào đúng vị trí khi keo còn khả năng điều chỉnh. Không đặt lệch rồi kéo lê quá xa. Chuyển động kéo lê làm biến dạng đường gờ và có thể tạo vùng rỗng phía dưới.

4. Ép và rung viên gạch theo hướng phù hợp. Máy rung gạch hoặc búa cao su được sử dụng để làm sụp các đường gờ, đẩy bọt khí ra ngoài và tăng diện tích tiếp xúc. Lực tác động phải được phân bố, không tập trung vào một góc.

5. Kiểm tra ngay một viên vừa đặt. Không đợi đến khi cả khu vực đã hoàn thiện mới kiểm tra. Khi đó, lớp keo đã đóng rắn và việc truy tìm nguyên nhân trở nên tốn kém.

Chiều dày lớp keo không nên được điều chỉnh bằng cách trộn đặc hơn rồi bù tùy tiện tại các vùng nền thấp. Keo dán gạch là vật liệu có tỷ lệ nước và bột được tính toán theo hướng dẫn kỹ thuật. Tỷ lệ trộn thông thường có thể ở mức 3 phần keo với 1 phần nước, nhưng con số áp dụng cuối cùng phải theo tài liệu của sản phẩm cụ thể. Nhiều nước hơn không làm lớp keo tốt hơn. Nó làm giảm độ đặc, kéo dài quá trình ổn định và có thể làm suy giảm liên kết sau khi đóng rắn.

Kiểm tra độ phủ ngay tại công trường bằng cách nhấc viên gạch

Đây là phép kiểm tra đơn giản nhưng có giá trị chẩn đoán cao. Một viên gạch vừa được đặt xuống được nhấc lên khỏi nền trước khi keo mất khả năng điều chỉnh. Mặt sau viên gạch và bề mặt nền được quan sát đồng thời.

Không cần suy đoán từ tiếng gõ. Không cần chờ đến khi xuất hiện vết nứt. Kiểm tra trực tiếp cho biết lớp keo đã đi đến đâu, bị đứt ở vị trí nào và có bọt khí hoặc vùng khô mặt hay không.

Các dấu hiệu cần quan sát

  • Keo phải bám lên mặt sau viên gạch ở dạng liên tục, không chỉ xuất hiện thành vài dải rời rạc.
  • Các đường gờ keo trên nền cần được dàn đều, không còn nguyên dạng quá cao sau khi viên gạch đã được ép.
  • Không được xuất hiện vùng mặt sau gần như sạch keo trong khi lớp keo vẫn còn nằm lại trên nền.
  • Không được có các khoang khí lớn, vùng keo bị kéo rách hoặc mảng keo đã khô mặt.
  • Mép và các góc viên gạch cần được quan sát riêng. Đây là nơi dễ thiếu keo do lực ép không phân bố đều.

Tiêu chuẩn hiện hành được nêu trong dữ liệu kỹ thuật tập trung vào phương pháp thử cường độ kéo và cường độ cắt của keo. Không nên tự gán một tỷ lệ phần trăm độ phủ cụ thể như một con số bắt buộc nếu không có tài liệu kỹ thuật chính thức của hệ keo, loại gạch và điều kiện thi công đang sử dụng.

Điểm này cần được nói rõ. Độ phủ không phải một con số có thể nhìn bằng mắt rồi kết luận tuyệt đối. Nó là kết quả của nhiều biến số: độ phẳng nền, độ phẳng mặt sau gạch, chiều cao răng cưa, hướng kéo bay, thời gian mở, lực ép, thao tác rung và trạng thái bề mặt trước khi dán.

Kiểm tra theo khu vực, không kiểm tra tượng trưng

Một viên kiểm tra duy nhất không đại diện cho toàn bộ sàn nếu điều kiện thi công đã thay đổi. Khu vực gần cửa, góc phòng, dải sát tường, nơi có ánh nắng trực tiếp hoặc vị trí thi công chậm thường có trạng thái keo khác nhau.

Trong ca thi công, việc kiểm tra nên được lặp lại khi có một trong các thay đổi sau:

  • Đổi người trộn hoặc người kéo keo.
  • Đổi loại bay răng cưa.
  • Đổi kích thước gạch.
  • Chuyển từ nền sàn sang tường.
  • Nhiệt độ và độ khô bề mặt thay đổi.
  • Keo đã trộn lâu hơn so với giai đoạn đầu.
  • Bắt đầu xuất hiện hiện tượng viên gạch khó điều chỉnh hoặc đường keo không còn dàn đều.

Nếu viên gạch được nhấc lên và cho thấy độ phủ kém, không nên tiếp tục lát để chờ điều chỉnh ở các hàng sau. Quy trình cần dừng tại vùng lỗi. Nguyên nhân phải được truy ngược từ bề mặt nền, trạng thái keo, cách kéo bay đến lực ép. Thi công tiếp chỉ làm tăng diện tích phải tháo dỡ.

Máy rung, búa cao su và ke nêm: hỗ trợ dàn keo, không thay thế kỹ thuật

Máy rung gạch và búa cao su có nhiệm vụ hỗ trợ. Chúng không thể bù cho một lớp keo đã khô mặt, một nền quá gồ ghề hoặc thao tác trét keo một mặt.

Khi viên gạch được đặt xuống, dưới mặt sau thường tồn tại các đường gờ keo và các khoảng trống giữa đường gờ. Việc rung đúng cách làm giảm chiều cao các đường gờ, đẩy không khí ra ngoài và tăng vùng tiếp xúc. Với gạch lớn, hiệu quả này có ý nghĩa trực tiếp đối với độ ổn định của liên kết.

Búa cao su cần được sử dụng với lực kiểm soát. Đập tập trung tại một điểm có thể gây nứt cục bộ hoặc làm viên gạch trượt khỏi vị trí. Đặc biệt, các loại gạch có cạnh dài và tiết diện lớn dễ bị tác động bởi mô men uốn nếu chỉ ép một góc trong khi các vùng khác chưa được đỡ bằng lớp keo liên tục.

Ke nêm cân bằng giúp kiểm soát cao độ và hạn chế chênh lệch giữa các viên. Nó giữ cho bề mặt không bị tạo gờ trong quá trình keo còn mềm. Tuy nhiên, ke nêm không phải thiết bị tạo độ phủ. Nếu bên dưới viên gạch tồn tại khoang rỗng, việc khóa cao độ chỉ làm lỗi nằm ổn định hơn trong thời gian đầu.

Thời điểm tháo ke nêm thường nằm trong khoảng 12–24 giờ sau thi công, tùy loại keo, điều kiện môi trường và hướng dẫn kỹ thuật của sản phẩm. Keo thường đạt trạng thái đóng rắn hoàn toàn sau khoảng 24 giờ, nhưng không nên dùng một mốc thời gian chung để thay thế yêu cầu kiểm tra thực tế. Nhiệt độ, độ ẩm, chiều dày lớp keo và khả năng hút nước của nền đều tác động đến quá trình này.

Ke nêm giữ cho hai viên gạch cân bằng. Nó không làm đầy một khoang rỗng và cũng không phục hồi một liên kết đã bị thiếu.

Nền không phẳng sẽ phá hỏng mọi phép tính về độ phủ

Nhiều lỗi bị quy cho keo nhưng thực tế bắt đầu từ nền. Nền bê tông hoặc lớp vữa cán có bụi bột, màng yếu, dầu, nước đọng hay chênh cao cục bộ sẽ làm giảm diện tích tiếp xúc. Keo chỉ liên kết với lớp bề mặt mà nó chạm vào. Nếu lớp bề mặt đó tự bong khỏi nền, cường độ của bản thân keo không còn ý nghĩa.

Đối với gạch khổ lớn, sai số nền gây ra ba vấn đề đồng thời:

  • Lớp keo phải bù chiều dày quá lớn tại một số vị trí.
  • Lực ép không phân bố đều trên toàn bộ viên gạch.
  • Các đường gờ keo bị nghiền ở điểm cao nhưng không chạm được vào điểm thấp.

Khi đó, người thi công thường cố khắc phục bằng cách tăng lượng keo tại chỗ. Cách làm này tạo ra lớp keo không đồng nhất. Khu vực dày co ngót và ổn định khác khu vực mỏng. Viên gạch bị nâng cục bộ. Sau khi chịu tải, ứng suất tập trung sẽ quay lại đúng vị trí đã được che giấu.

Một quy trình có kiểm soát phải xử lý nền trước khi mở bao keo:

1. Bề mặt được làm sạch bụi và các lớp yếu.

2. Các vùng rỗ, nứt hoặc bong phải được sửa chữa bằng vật liệu tương thích.

3. Các điểm cao phải được mài hoặc xử lý cơ học phù hợp.

4. Các vùng thấp phải được bù bằng lớp vật liệu có khả năng ổn định, không dùng keo dán gạch như vữa san nền tùy tiện.

5. Nền phải đạt trạng thái phù hợp với hệ keo, không có nước tự do hoặc lớp ngăn cách không được chỉ định.

6. Khu vực thi công phải được chia thành phạm vi đủ để hoàn thành trước khi keo mất khả năng làm việc.

Đối với tường, trọng lượng viên gạch tạo thêm lực trượt theo phương đứng. Với sàn, tải trọng sử dụng và va đập tạo ứng suất khác. Cùng một loại keo nhưng điều kiện làm việc không giống nhau. Không thể lấy một thao tác thi công trên sàn áp dụng nguyên trạng cho mảng tường cao hoặc khu vực chịu rung động.

Chọn keo dán gạch khổ lớn: C2 là điều kiện nền tảng, không phải kết luận cuối

Keo nhóm C2 có ngưỡng cường độ bám dính tối thiểu cao hơn nhóm C1. Đây là cơ sở kỹ thuật quan trọng khi thi công gạch kích thước lớn. Tuy nhiên, việc chọn keo phải đi cùng với loại nền, kích thước gạch, vị trí sử dụng và yêu cầu biến dạng của toàn bộ hệ hoàn thiện.

Khi xem xét một sản phẩm như keo dán gạch SikaCeram cho gạch khổ lớn, không nên chỉ nhìn vào tên thương hiệu hoặc chữ C2 trên bao bì. Hồ sơ kỹ thuật của sản phẩm mới là căn cứ để xác định phạm vi sử dụng, tỷ lệ trộn, thời gian thi công, chiều dày cho phép và điều kiện nền tương thích.

Một số điểm cần đối chiếu trong tài liệu kỹ thuật:

  • Phân hạng theo TCVN 7899-1:2008 hoặc hệ tiêu chuẩn tương đương được nhà sản xuất công bố.
  • Cường độ bám dính sau các điều kiện thử tương ứng.
  • Khả năng sử dụng cho gạch kích thước lớn và các loại nền cụ thể.
  • Tỷ lệ nước trộn theo khối lượng, không tự suy ra từ cảm giác dẻo của hỗn hợp.
  • Thời gian sử dụng sau khi trộn và thời gian điều chỉnh viên gạch.
  • Chiều dày lớp keo được phép.
  • Điều kiện bảo dưỡng, chờ mạch và đưa vào sử dụng.

Cần phân biệt rõ giữa chất kết dính cường độ cao và chất trám khe. Keo dán gạch tạo liên kết giữa viên gạch với nền. Chất trám khe co giãn xử lý chuyển vị tại các khe được thiết kế. Keo silicone xây dựng có phạm vi làm việc khác. Sikaflex và Sikadur cũng không phải các tên gọi có thể dùng thay thế cho mọi loại keo dán gạch. Mỗi nhóm vật liệu được thiết kế cho cơ chế tải, bề mặt và điều kiện đóng rắn riêng.

Dùng chất trám khe để thay thế keo dán gạch là sai cơ chế. Dùng keo dán gạch để lấp khe co giãn cũng tạo ra điểm cứng, ngăn chuyển vị và đẩy ứng suất sang vùng lân cận. Kết quả thường là nứt mạch, bong mép hoặc phá hủy lớp hoàn thiện.

Quy trình kiểm tra có thể triển khai ngay ngày mai

Nếu công trường đang chuẩn bị thi công gạch khổ lớn, việc kiểm tra không cần bắt đầu bằng một hệ thống hồ sơ phức tạp. Cần bắt đầu bằng một ô mẫu đủ lớn để kiểm soát thao tác thực tế.

Tại ô mẫu đó, trình tự nên được thực hiện rõ ràng:

  • Chuẩn bị nền đúng trạng thái thi công.
  • Trộn keo theo hướng dẫn của sản phẩm.
  • Kéo keo bằng bay răng cưa trên nền theo một hướng thống nhất.
  • Xoa lớp keo mỏng ở mặt sau viên gạch.
  • Đặt viên gạch và dùng máy rung hoặc búa cao su để dàn đều lớp keo.
  • Sử dụng ke nêm để kiểm soát cao độ nếu hệ gạch yêu cầu.
  • Nhấc một viên vừa đặt để quan sát mặt sau và nền.
  • Điều chỉnh thao tác nếu phát hiện đường keo chưa sụp, vùng thiếu tiếp xúc hoặc bọt khí lớn.
  • Chỉ triển khai đại trà sau khi quy trình đã tạo ra kết quả ổn định.

Không nên kiểm tra bằng cách gõ toàn bộ sàn sau khi keo đã đóng rắn rồi đánh dấu những vị trí phát tiếng bộp. Phương pháp đó chỉ cho biết khuyết tật đã tồn tại. Nó không ngăn được khuyết tật hình thành và cũng không xác định chính xác cơ chế gây lỗi nếu không kết hợp với kiểm tra bóc tách.

Trong nghiệm thu, các viên được nhấc kiểm tra cần được đặt lại đúng quy trình. Lớp keo bị kéo rách hoặc đã mất khả năng điều chỉnh phải được loại bỏ và thi công lại. Không được ấn viên gạch trở xuống rồi xem như lỗi đã được xử lý. Một mặt tiếp xúc đã bị phá vỡ không tự phục hồi chỉ nhờ thêm lực ép.

Khi âm thanh bộp đã xuất hiện, cần truy tìm mặt phá hủy

Âm thanh bộp là dấu hiệu cảnh báo, không phải chẩn đoán hoàn chỉnh. Cần xác định lớp nào đã mất liên kết:

  • Keo tách khỏi mặt sau viên gạch.
  • Keo tách khỏi nền.
  • Nền vữa hoặc bê tông bị phá hủy.
  • Gạch bị nứt hoặc cong vênh.
  • Khe mạch và khe chuyển vị được xử lý sai.
  • Vùng thiếu keo tạo khoang rỗng dưới viên.

Mặt phá hủy cho biết nguyên nhân nằm ở vật liệu, nền hay quy trình. Nếu keo còn bám đầy trên nền nhưng mặt sau viên gạch sạch, thao tác trét keo 2 mặt có thể đã bị bỏ qua hoặc lớp keo trên mặt sau không được thực hiện đúng. Nếu keo tách khỏi nền kèm theo bột yếu, vấn đề nằm ở chuẩn bị bề mặt. Nếu viên gạch vỡ tại góc trên vùng rỗng, tải trọng và va đập đã biến điểm thiếu liên kết thành điểm tập trung ứng suất.

Không nên phủ mạch mới, bơm thêm silicone hoặc thay vài viên bề mặt mà không xác định phạm vi lỗi. Biện pháp đó chỉ che dấu triệu chứng. Khi nguyên nhân là độ phủ thấp trên cả khu vực, hư hỏng sẽ tiếp tục phát triển ở những viên chưa phát tiếng bộp.

Kết luận: kiểm tra bằng cách nhấc gạch, không kiểm tra bằng niềm tin

Độ phủ keo dán gạch khổ lớn phải được kiểm soát trong lúc lớp keo còn đang làm việc. Gạch từ 60 × 60 cm trở lên cần được thi công bằng phương pháp trét keo 2 mặt. Bay răng cưa phải tạo đường keo đồng đều. Viên gạch phải được ép và rung để dàn lớp keo, đuổi bọt khí. Ke nêm chỉ làm nhiệm vụ cân bằng cao độ. Nó không thay thế liên kết.

Keo phân hạng C2, với cường độ bám dính tối thiểu 1,0 MPa theo TCVN 7899-1:2008, là nền tảng phù hợp hơn cho gạch khổ lớn so với keo C1 thông thường. Nhưng thông số đó chỉ phát huy khi nền, tỷ lệ trộn, thời gian thi công và độ phủ được kiểm soát đồng bộ.

Khuyến cáo thi công phải được giữ ở mức cứng rắn: trước khi lát đại trà, hãy nhấc viên gạch vừa đặt để kiểm tra mặt sau. Nếu vùng tiếp xúc không liên tục, dừng thi công, xác định nguyên nhân và sửa quy trình. Không chờ tiếng bộp xuất hiện. Khi âm thanh đã phát ra, phần việc cần làm không còn là kiểm tra nữa, mà là điều tra một liên kết đã bắt đầu bị phá hủy.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao gạch khổ lớn dễ bị bong tróc hơn gạch nhỏ?
Gạch khổ lớn có diện tích tiếp xúc lớn, dễ bị khuếch đại sai số độ phẳng nền và chịu ứng suất khác biệt giữa các lớp vật liệu khi nhiệt độ hoặc tải trọng thay đổi, dẫn đến nguy cơ bong tróc nếu lớp keo không liên tục.
Có nên dùng keo dán gạch C1 cho gạch khổ lớn không?
Keo nhóm C1 có cường độ bám dính tối thiểu 0,5 MPa, thường dùng cho điều kiện thông thường. Với gạch khổ lớn, tiêu chuẩn kỹ thuật khuyến nghị sử dụng keo nhóm C2 với cường độ bám dính tối thiểu 1,0 MPa.
Cách kéo bay răng cưa đúng kỹ thuật là gì?
Các đường keo cần được kéo thành những gờ liên tục, đồng đều và cùng một hướng để không khí có thể thoát ra ngoài khi ép viên gạch, tránh tạo thành các bọt khí bị khóa lại bên dưới.
Ke nêm có giúp lấp đầy các khoảng rỗng dưới gạch không?
Không, ke nêm chỉ có tác dụng giữ cân bằng cao độ giữa các viên gạch để bề mặt phẳng. Nó không thể lấp đầy các khoang rỗng hay phục hồi liên kết bị thiếu dưới mặt sau viên gạch.
Khi nào cần dừng thi công để kiểm tra độ phủ?
Cần dừng thi công ngay khi nhấc thử viên gạch mà thấy độ phủ kém, xuất hiện bọt khí lớn hoặc vùng khô mặt. Ngoài ra, cần kiểm tra lại quy trình khi thay đổi loại bay, kích thước gạch, người thi công hoặc điều kiện môi trường.

Đọc thêm