
Khi quãng đường vận chuyển kéo dài, hiện tượng này không còn là sai lệch nhỏ trong thi công. Nó có thể làm biến dạng cấp phối, phá vỡ khả năng bơm và tạo ra các vùng rỗng trong khối đổ.
Sai lầm nghiêm trọng nhất là tự ý thêm nước vào xe bồn để kéo độ sụt trở lại. Nước bổ sung làm tăng tỷ lệ nước/xi măng. Cường độ bê tông suy giảm. Co ngót tăng. Mao dẫn phát triển. Sau đó, công trình có thể xuất hiện nứt, thấm và bong tách bề mặt dù hỗn hợp ban đầu được thiết kế đúng.
Giải pháp kỹ thuật nằm ở việc kiểm soát độ sụt từ cấp phối, thời gian vận chuyển, nhiệt độ môi trường đến loại phụ gia sử dụng. Trong đó, phụ gia giảm nước kiểm soát độ sụt giữ vai trò trung tâm. Với các dòng phụ gia phù hợp, tính công tác của bê tông có thể được duy trì trong khoảng 120 phút hoặc lâu hơn mà không cần tăng lượng nước trộn.
Cơ chế vật lý của hiện tượng mất độ sụt bê tông tươi
Độ sụt không phải là một chỉ số độc lập. Nó phản ánh trạng thái lưu biến của hỗn hợp tại thời điểm đo. Khi độ sụt giảm, nguyên nhân không chỉ nằm ở việc bê tông bị khô. Bên trong hỗn hợp, nhiều quá trình đồng thời diễn ra:
- Hạt xi măng bắt đầu thủy hóa và tạo các sản phẩm liên kết ban đầu.
- Nước tự do dần chuyển thành nước tham gia phản ứng hoặc bị giữ trong cấu trúc mao dẫn.
- Các hạt xi măng có xu hướng kết tụ, làm tăng lực cản giữa các pha.
- Cốt liệu mịn và cốt liệu lớn tạo ma sát nội bộ lớn hơn khi hỗn hợp mất tính phân tán.
- Nhiệt độ cao thúc đẩy tốc độ phản ứng và làm nước bay hơi nhanh hơn trên bề mặt.
- Quá trình rung, quay và vận chuyển kéo dài làm thay đổi trạng thái phân bố của hồ xi măng.
Trong bê tông tươi, độ sụt giảm nhanh hay chậm phụ thuộc vào cấp phối và điều kiện thực tế. Không thể quy đổi cứng nhắc mức hao hụt theo từng kilômét vận chuyển hoặc từng độ C môi trường. Cùng một quãng đường, hai mẻ bê tông có thể mất độ sụt khác nhau do khác loại xi măng, độ ẩm cốt liệu, hàm lượng hạt mịn, nhiệt độ hỗn hợp và thời gian chờ tại công trường.
Bản chất vấn đề là sự suy giảm tính công tác, không phải đơn thuần là thiếu nước. Nếu bổ sung nước để bù lại độ sụt, tỷ lệ nước/xi măng bị thay đổi. Màng hồ xi măng loãng hơn. Sau khi đóng rắn, mạng mao dẫn trong bê tông có xu hướng lớn hơn. Đây là đường dẫn trực tiếp cho nước và các tác nhân xâm thực.
Độ sụt mất đi là dấu hiệu của biến đổi lưu biến. Thêm nước chỉ che khuất triệu chứng và tạo ra một khối bê tông yếu hơn.
Vì sao bê tông mất độ sụt vẫn có thể còn đủ nước?
Trong nhiều trường hợp, bê tông trở nên cứng hơn nhưng không đồng nghĩa toàn bộ nước đã biến mất. Nước vẫn tồn tại trong hệ thống dưới nhiều trạng thái khác nhau. Một phần là nước tự do. Một phần bị hấp phụ trên bề mặt hạt xi măng. Phần còn lại tham gia phản ứng thủy hóa.
Khi các hạt xi măng kết tụ, nước tự do bị giữ lại giữa các cụm hạt. Hỗn hợp giảm khả năng chảy dù tổng lượng nước chưa giảm theo cách có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Phụ gia giảm nước hoạt động bằng cách phân tán các hạt này, giải phóng phần nước bị giữ và cải thiện tính công tác mà không cần đưa thêm nước vào cấp phối.
Đây là điểm khác biệt giữa hóa dẻo có kiểm soát và pha loãng hỗn hợp. Một bên tác động vào cấu trúc phân tán của hạt xi măng. Một bên làm thay đổi trực tiếp tỷ lệ nước/xi măng.
Các yếu tố làm tốc độ mất độ sụt tăng lên
Tại trạm trộn, kế hoạch cấp bê tông cần tính cả thời gian từ lúc nạp vật liệu đến khi hoàn tất đổ. Những yếu tố sau thường làm suy giảm độ sụt nhanh hơn:
1. Nhiệt độ môi trường cao
Nhiệt làm tăng tốc độ thủy hóa ban đầu. Trong điều kiện nắng nóng, xe bồn chờ lâu ngoài công trường sẽ chịu thêm tác động của nhiệt bề mặt thùng và nhiệt trong hỗn hợp.
2. Xi măng có tốc độ phản ứng cao
Một số loại xi măng tạo cường độ sớm nhanh, đồng thời làm thời gian duy trì tính công tác ngắn hơn nếu không có phụ gia điều chỉnh.
3. Cốt liệu có độ hút nước lớn
Đá và cát chưa đạt trạng thái ẩm bão hòa có thể hút nước khỏi hồ xi măng. Cấp phối thực tế vì thế khác với cấp phối tính toán tại phòng thí nghiệm.
4. Hàm lượng hạt mịn không ổn định
Bột đá, bụi cốt liệu hoặc cát có mô đun độ lớn thay đổi làm tăng nhu cầu nước và thay đổi độ nhớt của hỗn hợp.
5. Thời gian vận chuyển và chờ đổ kéo dài
Bê tông có thể đến công trường trong trạng thái còn chấp nhận được nhưng mất thêm độ sụt trong thời gian chờ bơm, chờ kiểm tra hoặc chờ xử lý cốp pha.
6. Thiết bị trộn không duy trì được tốc độ quay phù hợp
Trộn quá ít làm phụ gia phân tán không đều. Trộn quá lâu trong điều kiện không kiểm soát có thể làm nhiệt độ hỗn hợp tăng và thay đổi tính công tác.
TCVN 3106:2022 và kỹ thuật đo độ sụt tại công trường
Phương pháp xác định độ sụt của hỗn hợp bê tông nặng mới nhất tại Việt Nam được quy định trong TCVN 3106:2022, thay thế TCVN 3106:1993. Đây là cơ sở để kiểm soát sự thay đổi độ sụt giữa trạm trộn, thời điểm xe đến công trường và thời điểm bắt đầu đổ.
Dụng cụ tiêu chuẩn là côn Abrams bằng thép không gỉ. Kích thước côn gồm:
| Bộ phận | Kích thước |
|---|---|
| Chiều cao côn | 300 mm |
| Đường kính đáy | 200 mm |
| Đường kính đỉnh | 100 mm |
Độ sụt phải được đo trên mẫu đại diện cho mẻ bê tông. Việc xúc vật liệu ở một vị trí không đại diện hoặc đo sau khi hỗn hợp đã bị phân tầng sẽ tạo ra kết quả sai. Khi kết quả đo bị sai, toàn bộ quyết định điều chỉnh phụ gia sau đó đều có thể bị sai theo.
Trình tự kiểm soát độ sụt
Quy trình tại công trường cần được tổ chức theo chuỗi kiểm soát, không xử lý tùy tiện theo cảm quan:
- Kiểm tra thời gian xuất trạm và thời gian xe đến công trường.
- Xác định vị trí lấy mẫu, tránh lấy ngay phần bê tông đầu tiên nếu hỗn hợp chưa đồng nhất.
- Trộn lại trong thời gian phù hợp để phân tán đều vật liệu và phụ gia.
- Đo độ sụt bằng côn Abrams theo cùng một phương pháp giữa các mẻ.
- Ghi nhận nhiệt độ môi trường, tình trạng cốt liệu và thời gian chờ.
- So sánh độ sụt thực tế với độ sụt thiết kế trước khi quyết định điều chỉnh.
- Chỉ bổ sung phụ gia khi loại phụ gia, liều lượng và thời gian trộn đã được xác lập trong cấp phối thử nghiệm.
Độ sụt không được đánh giá bằng mắt. Một hỗn hợp có bề mặt bóng nước chưa chắc có tính công tác tốt. Ngược lại, bê tông có độ nhớt cao vẫn có thể đạt độ sụt nhất định nhưng khó bơm, khó điền đầy góc cốp pha và dễ tạo rỗ tổ ong sau khi tháo khuôn.
Độ sụt và khả năng bơm không phải một khái niệm
Bê tông bơm cần sự cân bằng giữa độ chảy và độ ổn định. Nếu chỉ tăng độ sụt bằng nước, hỗn hợp có thể chảy nhanh nhưng bị phân tầng. Hồ xi măng tách khỏi cốt liệu. Áp lực bơm biến động. Cốt liệu lớn có thể tạo nút tại đoạn cong hoặc vị trí tiết diện ống thay đổi.
Chất hỗ trợ bơm và phụ gia siêu dẻo phải được lựa chọn theo tính chất của cốt liệu, đường kính ống, chiều dài tuyến bơm và phương pháp đổ. Một cấp phối có độ sụt cao nhưng thiếu hồ mịn vẫn có thể gây tắc ống. Một cấp phối có độ nhớt quá lớn lại tạo áp lực bơm cao và làm tăng nguy cơ phân lớp.
Phụ gia giảm nước và chậm ninh kết gốc Lignosulfonat
Sikament R7 N là phụ gia hóa dẻo và kéo dài thời gian ninh kết gốc Lignosulfonat cải tiến. Sản phẩm phù hợp với ASTM C-494 loại D, nhóm phụ gia giảm nước và chậm ninh kết.
Cơ chế của nhóm phụ gia này là làm giảm lực hút giữa các hạt xi măng, cải thiện khả năng phân tán và giảm nhu cầu nước để đạt cùng độ sụt. Thành phần chậm ninh kết giúp kéo dài thời gian duy trì tính công tác, đặc biệt trong điều kiện nhiệt độ môi trường cao hoặc thời gian vận chuyển dài.
Liều lượng khuyến nghị của Sikament R7 N nằm trong khoảng 0,3–0,8 lít cho mỗi 100 kg xi măng. Đây là khoảng tham khảo theo loại và hiệu xi măng. Không được xem đây là công thức cố định cho mọi cấp phối. Cùng một liều lượng nhưng xi măng khác nhau, cốt liệu khác nhau hoặc nhiệt độ khác nhau sẽ cho phản ứng khác nhau.
Khi nào nhóm Lignosulfonat phù hợp?
Nhóm phụ gia này thường được xem xét khi:
- Bê tông cần vận chuyển trong thời gian dài nhưng không yêu cầu độ chảy quá cao.
- Công trình thi công trong điều kiện nóng, tốc độ mất độ sụt tăng rõ.
- Cấp phối cần kéo dài thời gian ninh kết để hoàn tất công tác bơm và đổ.
- Trạm trộn đã có dữ liệu tương thích giữa phụ gia, xi măng và cốt liệu.
- Mục tiêu chính là duy trì độ sụt ổn định, không phải tạo dòng bê tông tự lèn có độ chảy cực lớn.
Với cấp phối thông thường, phụ gia Lignosulfonat có thể giải quyết tốt bài toán giảm nước kết hợp kéo dài thời gian thi công. Tuy nhiên, giới hạn của nó phải được xác định bằng thử nghiệm. Không thể lấy thời gian duy trì độ sụt của một dự án áp dụng cho dự án khác nếu vật liệu đầu vào đã thay đổi.
Nguy cơ khi dùng quá liều
Quá liều phụ gia chậm ninh kết có thể kéo dài thời gian đông kết đáng kể. Bê tông giữ trạng thái dẻo lâu hơn nhưng không đồng nghĩa cường độ phát triển tốt hơn. Nếu công tác hoàn thiện bề mặt được thực hiện quá sớm, lớp mặt có thể bị xáo trộn. Nếu bảo dưỡng không đúng, bề mặt mất nước, co ngót dẻo và nứt vẫn xảy ra.
Các biểu hiện cần được theo dõi gồm:
- Thời gian bắt đầu ninh kết kéo dài bất thường.
- Bề mặt bê tông chậm ổn định sau khi hoàn tất đổ.
- Nước tách hoặc hồ xi măng nổi lên nhiều.
- Khó xác định thời điểm xoa nền, tạo phẳng hoặc hoàn thiện.
- Cường độ sớm không đạt tiến độ dự kiến.
Phụ gia không sửa được một cấp phối sai. Nó chỉ điều chỉnh một số đặc tính trong giới hạn thiết kế. Khi giới hạn đó bị vượt qua, hóa chất có thể chuyển từ công cụ kiểm soát sang nguyên nhân gây mất ổn định.
Phụ gia siêu dẻo Polycarboxylate cho hành trình dài
Các dòng phụ gia siêu dẻo thế hệ mới gốc Polycarboxylate, như Sika ViscoCrete 3000-20M hoặc Sika ViscoCrete-3153, được sử dụng khi cần duy trì độ chảy và tính công tác trong thời gian dài. Một số cấp sản phẩm có khả năng duy trì độ sụt khoảng 120 phút hoặc hơn, tùy cấp phối và điều kiện thi công.
PCE hoạt động trên bề mặt các hạt xi măng mịn. Các mạch polymer bám vào hạt xi măng, tạo lực đẩy không gian và giữ các hạt phân tách trong quá trình thủy hóa. Khi các hạt không kết tụ sớm, nước được phân bố hiệu quả hơn. Bê tông đạt độ chảy cao hơn mà không cần tăng nước trộn.
Đây là cơ chế có lợi cho cả cường độ và khả năng thi công. Giảm nước nhưng vẫn giữ độ sụt giúp tỷ lệ nước/xi măng không bị phá vỡ. Khi bê tông đóng rắn, cấu trúc mao dẫn được kiểm soát tốt hơn. Cường độ, độ đặc chắc và khả năng chống thấm có cơ sở để cải thiện.
So sánh hai hướng xử lý
| Tiêu chí | Lignosulfonat cải tiến | Polycarboxylate |
|---|---|---|
| Mục tiêu chính | Giảm nước, kéo dài ninh kết và duy trì độ sụt | Tạo độ chảy cao, giảm nước mạnh và duy trì tính công tác |
| Cơ chế chính | Phân tán hạt xi măng, kết hợp điều chỉnh thời gian ninh kết | Phân tán hạt bằng cơ chế hấp phụ và cản trở không gian |
| Phạm vi ứng dụng | Bê tông thông thường, vận chuyển xa, thời tiết nóng | Bê tông yêu cầu độ chảy cao, bơm xa, cấp phối hiện đại |
| Khả năng kiểm soát độ sụt | Phù hợp khi yêu cầu duy trì ổn định ở mức thiết kế | Có thể duy trì độ sụt khoảng 120 phút hoặc hơn tùy cấp phối |
| Yêu cầu kiểm tra tương thích | Cần kiểm tra với xi măng và cốt liệu | Cần kiểm tra chặt hơn do phản ứng phụ thuộc mạnh vào vật liệu |
| Rủi ro khi dùng sai liều | Chậm ninh kết kéo dài, ảnh hưởng tiến độ hoàn thiện | Phân tầng, tách nước hoặc thay đổi mạnh tính lưu biến |
| Vị trí thường dùng | Bê tông tươi vận chuyển xa, thời tiết nóng | Bê tông bơm, bê tông độ sụt cao, kết cấu mật độ cốt thép lớn |
Không có loại phụ gia duy nhất phù hợp cho toàn bộ công trình. PCE không tự động tốt hơn trong mọi trường hợp. Nếu cốt liệu có cấp phối xấu, lượng hồ không đủ hoặc thời gian trộn không phù hợp, độ chảy cao có thể đi kèm phân tầng. Nếu lựa chọn phụ gia chỉ dựa trên tên gọi mà bỏ qua xi măng và cốt liệu, sai số sẽ xuất hiện ngay tại xe bồn.
Phụ gia siêu dẻo không tạo ra chất lượng từ khoảng trống. Nó chỉ phát huy khi cấp phối, vật liệu và quy trình trộn đã được kiểm soát.
Tác động của PCE lên cấp phối bê tông
Khi sử dụng PCE, thiết kế cấp phối cần tập trung vào bốn biến số:
- Tỷ lệ nước/xi măng: không được tăng nước chỉ vì hỗn hợp đang có độ chảy cao.
- Hàm lượng hồ xi măng: phải đủ để bao phủ cốt liệu và duy trì khả năng bơm.
- Độ ẩm cốt liệu: sai lệch độ ẩm làm thay đổi lượng nước thực tế trong mẻ.
- Thời gian và năng lượng trộn: phụ gia phải được phân tán đồng đều trước khi đánh giá độ sụt.
Một số cấp phối có thể đạt độ sụt cao ngay sau khi trộn nhưng mất nhanh sau đó. Một số cấp phối khác ban đầu có độ nhớt lớn, sau thời gian trộn bổ sung lại đạt trạng thái chảy tốt hơn. Vì vậy, chỉ tiêu cần theo dõi không phải một giá trị đơn lẻ mà là đường biến thiên độ sụt theo thời gian.
Quy trình giữ độ sụt khi vận chuyển bê tông đường dài
Kiểm soát độ sụt phải bắt đầu tại trạm trộn. Khi xe đã đến công trường, khả năng sửa chữa bị thu hẹp. Quy trình phù hợp gồm các bước sau.
1. Xác định thời gian thực tế của toàn bộ chu kỳ
Không chỉ tính thời gian xe chạy. Chu kỳ cần bao gồm:
- Thời gian nạp vật liệu tại trạm trộn.
- Thời gian trộn ban đầu.
- Thời gian vận chuyển.
- Thời gian chờ vào công trường.
- Thời gian kiểm tra và lấy mẫu.
- Thời gian bơm hoặc đổ.
- Thời gian hoàn thiện khối đổ.
Nếu chỉ tính quãng đường, phần thời gian chờ sẽ bị bỏ sót. Đây là nơi độ sụt tiếp tục suy giảm nhưng thường không được ghi nhận trong kế hoạch.
2. Xác lập cấp phối thử nghiệm
Cấp phối thử phải dùng đúng loại xi măng, cát, đá và nước dự kiến đưa vào sản xuất. Phụ gia được kiểm tra ở các mức liều lượng khác nhau trong phạm vi cho phép. Kết quả cần ghi nhận gồm:
- Độ sụt ban đầu.
- Độ sụt sau các khoảng thời gian vận chuyển giả lập.
- Khả năng duy trì tính đồng nhất.
- Mức độ tách nước và phân tầng.
- Khả năng bơm qua thiết bị dự kiến.
- Thời gian ninh kết.
- Cường độ bê tông theo tuổi thiết kế.
Không nên lựa chọn liều lượng chỉ vì một mẫu có độ sụt cao nhất. Mục tiêu là đạt trạng thái ổn định, có thể dự đoán và tương thích với tiến độ thi công.
3. Kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm vật liệu
Trong điều kiện nắng nóng, nước trộn, cốt liệu và thùng xe đều có thể làm tăng nhiệt độ hỗn hợp. Cốt liệu khô làm mất nước hữu hiệu. Cốt liệu quá ướt lại đưa thêm nước vào cấp phối. Cả hai trường hợp đều làm sai tỷ lệ nước/xi măng nếu không được hiệu chỉnh.
Tại trạm trộn, độ ẩm cát và đá cần được cập nhật theo thời điểm sản xuất. Không thể dùng một giá trị độ ẩm cố định cho cả ngày khi thời tiết và bãi chứa vật liệu thay đổi.
4. Phân loại nguyên nhân trước khi điều chỉnh
Khi bê tông đến công trường bị giảm độ sụt, cần phân loại:
- Mất độ sụt do thời gian: xem lại phụ gia duy trì độ sụt và kế hoạch vận chuyển.
- Mất độ sụt do nhiệt: điều chỉnh biện pháp kiểm soát nhiệt và thời điểm cấp bê tông.
- Mất độ sụt do cốt liệu hút nước: kiểm tra lại độ ẩm và trạng thái bão hòa bề mặt.
- Mất độ sụt do trộn không đều: kiểm tra thời gian, tốc độ quay và trình tự nạp phụ gia.
- Mất độ sụt do cấp phối thiếu hồ: xem lại tỷ lệ cát, lượng hạt mịn và hàm lượng xi măng.
- Mất độ sụt do ninh kết bắt đầu: chỉ sử dụng phụ gia điều chỉnh nếu đã có quy trình được phê duyệt.
Không thể xử lý mọi nguyên nhân bằng một hành động duy nhất. Bổ sung phụ gia vào bê tông đã gần kết thúc thời gian thi công có thể không phục hồi được tính công tác như mong muốn. Trong một số trường hợp, nó còn làm phân bố phụ gia không đều giữa các vùng trong xe.
Bổ sung phụ gia trực tiếp tại công trường
Khi vận chuyển xa, phương án cấp phụ gia tại công trường có thể được xem xét nếu đã được kiểm soát bằng cấp phối thử và quy trình rõ ràng. Với một số phụ gia siêu dẻo kéo dài thời gian ninh kết như Sikament R4, phụ gia có thể được bổ sung trực tiếp vào bê tông tươi tại công trường, sau đó trộn thêm khoảng 3 phút trước khi thi công để đạt hiệu quả hóa dẻo rõ rệt hơn.
Ba điều kiện phải được giữ nguyên:
1. Đúng loại phụ gia
Phụ gia sử dụng tại công trường phải đúng sản phẩm đã được xác lập trong hồ sơ kỹ thuật. Không thay thế bằng một loại hóa chất khác chỉ vì cùng được gọi là phụ gia giảm nước.
2. Đúng liều lượng
Lượng phụ gia phải được định lượng bằng dụng cụ phù hợp. Không đổ theo cảm quan, không ước lượng bằng can không có vạch chia.
3. Đủ thời gian trộn lại
Sau khi cấp phụ gia, bê tông phải được trộn đủ thời gian để hóa chất phân tán trong toàn bộ hỗn hợp. Khoảng 3 phút là thời gian tham khảo theo trường hợp sử dụng nêu trên, không phải quy tắc áp dụng cho mọi sản phẩm.
Cách khắc phục bê tông mất độ sụt tại hiện trường
Trình tự xử lý cần được ghi nhận bằng biên bản và người có trách nhiệm kỹ thuật phê duyệt. Không để công nhân tự quyết định việc thêm nước hoặc hóa chất.
- Kiểm tra thời gian xuất trạm và thời gian xe đến.
- Đo độ sụt trước khi điều chỉnh.
- Kiểm tra biểu hiện phân tầng, tách nước và nhiệt độ hỗn hợp.
- Đối chiếu loại xi măng, cấp phối và phụ gia đã sử dụng.
- Tính lượng phụ gia cần bổ sung theo hồ sơ cấp phối.
- Cấp phụ gia vào vị trí phù hợp trong thùng trộn.
- Trộn lại đủ thời gian ở tốc độ quy định.
- Đo lại độ sụt và kiểm tra tính đồng nhất.
- Chỉ cho phép bơm hoặc đổ khi hỗn hợp đạt yêu cầu kỹ thuật.
Nếu bê tông đã có dấu hiệu ninh kết rõ, bị phân tầng nghiêm trọng hoặc không thể khôi phục bằng quy trình đã được xác nhận, việc cố đưa vào kết cấu sẽ chuyển rủi ro từ một xe bê tông sang toàn bộ khối đổ. Khi đó, xử lý loại bỏ hoặc đánh giá lại phải được đặt lên trước tiến độ.
Bảo dưỡng sau khi giữ được độ sụt
Duy trì độ sụt chỉ giải quyết giai đoạn vận chuyển và thi công. Nó không thay thế bảo dưỡng bê tông. Sau khi đổ, bê tông vẫn tiếp tục thủy hóa và phát triển cường độ. Nếu bề mặt mất nước quá nhanh, ứng suất co ngót phát sinh trước khi kết cấu đạt đủ khả năng chịu kéo. Nứt bề mặt có thể xuất hiện dù độ sụt lúc đổ nằm trong giới hạn.
Các yếu tố cần kiểm soát gồm:
- Thời điểm bắt đầu bảo dưỡng.
- Khả năng giữ ẩm bề mặt.
- Gió và bức xạ nhiệt.
- Diện tích bề mặt hở.
- Chiều dày và hình dạng cấu kiện.
- Mức độ hạn chế biến dạng của kết cấu.
- Trình tự tháo cốp pha và tải trọng tác dụng sớm.
Bê tông có độ chảy cao thường cần được theo dõi kỹ hiện tượng tách nước và ổn định bề mặt. Không được xoa hoàn thiện khi nước tách còn nằm trên bề mặt. Hành động này đẩy nước và hồ yếu xuống lớp mặt, tạo một vùng cường độ thấp dễ bong tróc và thấm nước.
Kết luận: không dùng nước để che giấu sai số cấp phối
Hao hụt độ sụt bê tông tươi khi vận chuyển xa là hiện tượng có thể dự đoán và kiểm soát. Nhưng nó không được xử lý bằng phản xạ đơn giản là thêm nước. Giải pháp đúng phải bắt đầu từ cấp phối, tiếp tục qua lựa chọn phụ gia, kiểm soát thời gian vận chuyển, đo độ sụt theo TCVN 3106:2022 và kết thúc bằng quy trình bổ sung phụ gia được phê duyệt.
Sikament R7 N phù hợp với bài toán giảm nước kết hợp kéo dài thời gian ninh kết trong điều kiện nhiệt độ cao. Các dòng Sika ViscoCrete gốc Polycarboxylate phù hợp hơn khi bê tông cần độ chảy cao, khả năng bơm tốt và thời gian duy trì tính công tác dài. Liều lượng phải được xác lập theo xi măng, cốt liệu và cấp phối thực tế. Không được sao chép máy móc giữa các công trình.
Độ sụt là chỉ tiêu thi công. Cường độ, độ đặc chắc và độ bền mới là hậu quả lâu dài. Khi bê tông mất độ sụt, cần phục hồi tính công tác bằng cơ chế hóa dẻo đúng kỹ thuật, không pha loãng hồ xi măng bằng nước. Mọi quyết định điều chỉnh tại công trường phải được đo, ghi nhận và kiểm soát. Nếu không, phần sai số của một mẻ bê tông sẽ bị khóa cứng trong kết cấu.