
Chỉ một vùng rỗng chân, một màng dầu mỏng hoặc một lớp men quá bóng cũng có thể cắt đứt cường độ bám dính.
Với giải pháp keo dán gạch chồng gạch Sika, lớp gạch cũ được giữ lại thay vì đục phá toàn bộ. Xà bần giảm. Thời gian cải tạo rút ngắn. Kết cấu sàn ban đầu ít bị xáo trộn. Nhưng đây không phải phương án phủ che khuyết tật. Nền cũ đã phồng rộp, nứt gãy nặng hoặc bộp phải được loại bỏ trước khi thi công.
Dán gạch chồng gạch không phải là dán lên mọi nền cũ
Đục phá truyền thống tạo ra một chuỗi công việc nặng: tháo lớp hoàn thiện, vận chuyển xà bần, vệ sinh nền, xử lý cao độ rồi mới lát lại. Với công trình đang sử dụng, mỗi công đoạn đều kéo theo bụi, tiếng ồn và nguy cơ ảnh hưởng đến hệ thống điện nước âm sàn.
Dán gạch mới lên gạch cũ bằng keo chuyên dụng cắt giảm phần phá dỡ. Tuy nhiên, tải trọng của lớp hoàn thiện mới vẫn được truyền qua lớp gạch cũ. Vì vậy, lớp cũ phải đủ ổn định để trở thành một phần của hệ kết cấu hoàn thiện.
Cơ chế hư hỏng thường đi theo hướng sau:
- Gạch cũ bị rỗng chân hoặc bong khỏi lớp vữa bên dưới.
- Lớp gạch mới được dán lên vùng đó.
- Tải trọng sử dụng truyền xuống một điểm không có liên kết.
- Ứng suất tập trung tăng tại mép viên gạch hoặc vùng mạch.
- Lớp keo bị kéo, xé hoặc mất liên kết theo từng chu kỳ sử dụng.
- Hiện tượng bộp, nứt mạch và bong gạch xuất hiện sau thi công.
Do đó, thi công dán gạch chồng gạch chỉ có ý nghĩa khi phần nền hiện hữu còn khả năng chịu lực và không xảy ra chuyển vị bất thường. Keo dán không thể phục hồi một nền đã mất liên kết với kết cấu.
Keo có cường độ bám dính cao không thể biến một lớp nền rỗng chân thành nền ổn định. Hư hỏng bên dưới phải được xử lý trước khi lớp hoàn thiện mới được đặt lên.
Khi nào có thể giữ lại lớp gạch cũ?
Nền cũ phù hợp hơn với phương án dán chồng khi đạt các điều kiện thực tế sau:
- Bề mặt không bị phồng rộp trên diện rộng.
- Viên gạch không nứt gãy nghiêm trọng.
- Không xuất hiện vùng bộp hoặc rỗng chân cần tháo bỏ.
- Nền không có nước đọng kéo dài hoặc dấu hiệu thấm đang hoạt động.
- Cao độ sau khi cộng thêm lớp keo và gạch mới vẫn phù hợp với cửa ra vào, bậc chuyển tiếp, phễu thu và thiết bị vệ sinh.
- Bề mặt có thể được làm sạch và tạo điều kiện cho keo phát triển liên kết.
Một số khu vực cần thận trọng hơn. Sàn nhà tắm, ban công, sân thượng và vị trí thường xuyên tiếp xúc với nước không chỉ yêu cầu độ bám dính. Chúng còn yêu cầu kiểm soát chuyển vị, độ dốc thoát nước và các khe tiếp giáp. Nếu nguồn nước vẫn xâm nhập từ phía dưới, việc dán thêm gạch chỉ che khuất triệu chứng trong một thời gian.
Vì sao gạch cũ quá bóng gây mất liên kết?
Lớp men bóng có độ hút nước rất thấp. Với nền hút nước, một phần nước trong keo xi măng có thể tương tác với bề mặt mao dẫn. Với bề mặt men kính, cơ chế này bị hạn chế. Diện tích tiếp xúc thực tế cũng không đồng nghĩa với diện tích liên kết cơ học.
Khi keo được trải trên nền quá trơn, lớp keo có thể nằm như một màng trung gian nhưng không khóa được vào bề mặt. Cường độ bám dính danh nghĩa của sản phẩm không còn phản ánh đúng hiện trường. Sự phá hủy có thể xảy ra tại mặt tiếp giáp giữa keo và gạch cũ, thay vì phá hủy trong thân keo.
Nói cách khác, cùng một loại keo dán gạch chồng gạch Sika, kết quả sẽ khác hoàn toàn giữa nền được xử lý nhám và nền còn nguyên dầu mỡ, bụi xi măng hoặc màng bóng không phù hợp.
Xử lý bề mặt: điểm quyết định của toàn bộ hệ dán
Trong hồ sơ kỹ thuật, độ bám dính thường được nhìn qua một con số. Ngoài công trường, con số đó bị chi phối bởi bề mặt. Một lớp keo tốt chỉ làm việc trong điều kiện nền cho phép nó phát triển liên kết.
Công tác chuẩn bị phải bắt đầu bằng việc loại bỏ các yếu tố làm suy giảm tiếp xúc:
1. Kiểm tra tình trạng lớp gạch cũ.
Gõ kiểm tra để phát hiện vùng bộp. Quan sát các đường nứt, khu vực phồng, mép gạch bong và vị trí từng bị sửa chữa. Gạch hỏng phải được cạy bỏ. Phần nền bên dưới cần được làm sạch và sửa lại trước khi lát mới.
2. Loại bỏ dầu mỡ và chất bẩn.
Dầu bếp, sáp, hóa chất vệ sinh, bụi mịn và cặn bám tạo thành lớp ngăn cách. Nước sạch không phải lúc nào cũng đủ để loại bỏ chúng. Bề mặt sau vệ sinh phải không còn màng trơn, không đọng hóa chất và không phát sinh bụi rời.
3. Tạo độ nhám khi nền quá bóng.
Có thể xử lý cơ học để phá màng bóng và mở thêm biên dạng bề mặt. Mục tiêu không phải làm xước cho có hình thức. Mục tiêu là tạo điều kiện để keo bám cơ học ổn định hơn.
4. Sử dụng lớp lót khi điều kiện nền yêu cầu.
Với nền khó bám dính, lớp lót kết dính chuyên dụng có thể được dùng trước khi trải keo. Việc lựa chọn và thi công lớp lót phải theo hướng dẫn của hệ sản phẩm. Không được coi lớp lót là phương án thay thế cho công đoạn vệ sinh.
5. Kiểm soát độ phẳng và cao độ.
Gạch mới có thể che màu sắc của nền cũ. Nó không tự sửa được sai lệch mặt phẳng lớn. Nếu dùng lớp keo quá dày để bù cao độ, ứng suất co ngót và biến dạng trong lớp dán tăng lên. Đây là nguồn phát sinh rỗng, trượt hoặc nứt mạch.
Những nền không nên dán phủ trực tiếp
Các trường hợp dưới đây phải được phân loại riêng, không đưa thẳng vào quy trình thi công:
- Nền gạch đã phồng rộp hoặc có nhiều vùng rỗng chân.
- Nền có vết nứt liên tục, nứt theo mạch hoặc nứt xuyên qua nhiều viên.
- Khu vực đang bị thấm mà chưa xác định và xử lý nguồn nước.
- Bề mặt bám dầu mỡ nhưng chưa được tẩy sạch.
- Lớp phủ cũ không xác định được thành phần và chưa có phương án kiểm soát độ bám dính.
- Nền biến dạng do lún, rung hoặc chuyển vị kết cấu.
- Khu vực có cao độ hoàn thiện mới làm cản cửa, che phễu thu hoặc phá dốc thoát nước.
Đặc biệt, không nên kết luận rằng một nền phủ epoxy cũ có thể nhận keo dán gạch chỉ bằng quan sát bằng mắt. Khả năng bám dính thực tế còn phụ thuộc vào tình trạng lớp epoxy, mức độ chuẩn bị bề mặt và hệ keo được chọn.
Chọn keo Sika theo kích thước gạch và mức tải
Keo dán gạch không phải một nhóm sản phẩm đồng nhất. Mỗi dòng có giới hạn về nền, kích thước viên, chiều dày thi công và điều kiện sử dụng. Chọn keo theo giá hoặc theo thói quen thi công là cách rút ngắn giai đoạn chuẩn bị nhưng kéo dài giai đoạn sửa chữa.
Với dán gạch chồng gạch, các dòng như SikaCeram-200 HP hoặc SikaCeram-255 Big Slab phù hợp hơn cho những yêu cầu bám dính cao, gạch khổ lớn hoặc khu vực chịu tải và ẩm ướt. Sika Tilebond GP và SikaCeram-75 Easy Fix thuộc nhóm keo dán gạch dạng bột được sử dụng theo tỷ lệ nước và quy trình trộn tương ứng của sản phẩm.
Bảng dưới đây chỉ ra hướng phân loại kỹ thuật ở mức thực hành:
| Điều kiện thi công | Yêu cầu đối với keo | Hướng xử lý |
|---|---|---|
| Gạch kích thước thông thường, nền ổn định | Độ bám dính phù hợp, lớp keo đồng đều | Dùng keo dán gạch đúng cấp, trộn đúng tỷ lệ |
| Gạch khổ lớn | Khả năng truyền lực và phủ mặt sau tốt hơn | Ưu tiên dòng chuyên dụng như SikaCeram-255 Big Slab |
| Khu vực ẩm ướt hoặc chịu tải lớn | Liên kết ổn định trong điều kiện sử dụng khắc nghiệt hơn | Có thể dùng SikaCeram-200 HP hoặc dòng tương đương theo hồ sơ kỹ thuật |
| Nền gạch cũ bóng, khó bám | Bề mặt cần được tạo nhám hoặc dùng lớp lót | Không trải keo trực tiếp lên nền chưa xử lý |
| Gạch có mặt sau không phẳng | Cần kiểm soát độ phủ và chiều dày lớp keo | Kết hợp trét keo trên nền và một lớp mỏng ở mặt sau viên gạch |
Đối với keo dán gạch gốc xi măng, cường độ bám dính tối thiểu thường được tham chiếu ở mức ≥ 0,5 N/mm² theo TCVN 7899-2 và ISO 13007-2. Con số này có giá trị trong điều kiện thử nghiệm tương ứng. Nó không cho phép bỏ qua chất lượng nền, nước trộn, thời gian thi công hoặc kỹ thuật trét keo.
Trét hai mặt với gạch khổ lớn
Gạch khổ lớn làm tăng yêu cầu về độ phủ mặt sau. Nếu chỉ trét một phía, các vùng lõm ở mặt sau viên gạch có thể không được lấp đầy. Khoảng rỗng phía dưới trở thành điểm yếu chịu tải.
Khi khu vực thi công có tải lớn, ẩm ướt hoặc sử dụng gạch khổ lớn, nên áp dụng phương án trét một lớp keo mỏng ở mặt sau viên gạch kết hợp với lớp keo trên nền. Mục tiêu là tăng diện tích tiếp xúc thực tế và hạn chế khoang rỗng.
Cần phân biệt trét hai mặt với việc bù sai lệch bằng một lớp keo quá dày. Hai kỹ thuật này không giống nhau. Trét mặt sau nhằm tăng độ phủ. Bù nền bằng chiều dày bất thường làm thay đổi trạng thái co ngót, thời gian khô và ứng suất trong lớp dán.
Quy trình thi công dán gạch chồng gạch bằng keo Sika
Một quy trình ổn định phải kiểm soát được cả vật liệu và thao tác. Chỉ cần sai tỷ lệ nước hoặc kéo dài thời gian thi công quá mức, tính lưu biến của keo đã thay đổi. Khi đó, khả năng tạo lớp răng đều và duy trì chiều dày thiết kế bị suy giảm.
1. Kiểm tra và định vị khu vực lát
Trước khi trộn keo, cần xác định hướng lát, vị trí cắt gạch, cao độ hoàn thiện và các điểm giao với tường, cửa, bậc hoặc thiết bị. Dán chồng làm tăng cao độ sàn. Phần tăng thêm gồm chiều dày viên gạch mới và lớp keo sau khi ép.
Nếu không tính trước, các lỗi thường xuất hiện ở cuối quy trình:
- Cửa không đủ khe mở.
- Nắp phễu thu thấp hơn mặt hoàn thiện.
- Nước không thoát đúng hướng.
- Mặt sàn mới cao hơn khu vực liền kề.
- Mạch gạch bị chia vụn tại các mép kết thúc.
Đây là lỗi hình học. Keo có cường độ bám dính cao cũng không thể sửa được.
2. Vệ sinh và xử lý nền
Nền phải được làm sạch, khô theo yêu cầu của hệ sản phẩm và không còn vật liệu rời. Các vùng dầu mỡ phải được xử lý riêng. Gạch cũ quá trơn bóng cần tạo nhám hoặc thi công lớp lót kết dính chuyên dụng.
Sau khi xử lý, bụi phát sinh phải được loại bỏ. Không để hạt mài, bột xi măng hoặc mảnh men nằm lại trên bề mặt. Những hạt này làm giảm diện tích tiếp xúc và tạo mặt phá hủy yếu.
Các vùng gạch rỗng chân phải được tháo bỏ. Khoảng trống sau tháo cần được sửa bằng vật liệu phù hợp, sau đó chờ đạt điều kiện thi công. Không dùng lớp keo dán để lấp một hốc nền lớn hoặc san một mặt sàn mất ổn định.
3. Trộn keo đúng tỷ lệ
Với keo dán gạch dạng bột như Sika Tilebond GP hoặc SikaCeram-75 Easy Fix, tỷ lệ nước sạch thường nằm trong khoảng 5,5–6,5 lít cho một bao 25 kg, tùy sản phẩm và hướng dẫn kỹ thuật cụ thể.
Nước phải sạch. Không tự ý tăng nước để kéo dài thời gian thi công hoặc làm hỗn hợp dễ kéo bay hơn. Nước dư làm tăng độ co ngót, giảm khả năng kiểm soát độ đặc và có thể ảnh hưởng đến cường độ sau đóng rắn.
Trộn bằng máy trộn cầm tay ở tốc độ phù hợp cho đến khi hỗn hợp đồng nhất. Sau khi trộn, keo cần được sử dụng trong khoảng thời gian thi công cho phép. Ở điều kiện khoảng 27°C và độ ẩm 65%, thời gian thi công của keo sau trộn có thể vào khoảng 60 phút. Nhiệt độ, gió và độ hút nước của nền sẽ làm thời gian này thay đổi.
Không đổ thêm nước vào hỗn hợp đã bắt đầu đông kết. Động tác này làm thay đổi cấu trúc vật liệu và tạo ra vùng liên kết không đồng nhất.
4. Trải keo bằng bay răng cưa
Keo được trét lên nền bằng bay răng cưa. Chiều dày lớp keo thường khoảng 3–4 mm theo điều kiện thi công và loại bay sử dụng. Định mức trung bình có thể vào khoảng 5 kg/m² với lớp keo dày khoảng 4 mm.
Các răng bay phải được kéo theo một hướng tương đối thống nhất. Lớp keo không được trải thành những mảng rời. Nếu lớp keo bị khô mặt trước khi đặt gạch, khả năng liên kết sẽ suy giảm. Không nên trải một diện tích lớn vượt quá năng lực thao tác của đội thi công.
Đối với gạch khổ lớn, cần kiểm soát độ phủ mặt sau. Một lớp keo mỏng ở lưng viên gạch giúp giảm vùng rỗng và tăng tiếp xúc. Mép viên gạch, góc viên và các vùng lõm cần được quan sát trong quá trình kiểm tra mẫu.
5. Đặt gạch và điều chỉnh vị trí
Viên gạch được đặt lên lớp keo với áp lực phù hợp. Dùng búa cao su gõ đều để tạo tiếp xúc và ổn định mặt phẳng. Không gõ tập trung vào một góc khiến viên gạch trượt khỏi lớp keo hoặc đẩy keo dồn ra ngoài.
Keo dán gạch gốc xi măng thường cho phép chỉnh sửa vị trí trong khoảng 10–20 phút sau khi thi công. Khoảng thời gian này không phải giấy phép để kéo dài thao tác. Khi keo bắt đầu mất tính công tác, việc nâng viên gạch lên và đặt xuống nhiều lần có thể làm phá cấu trúc lớp keo.
Mỗi khu vực cần được kiểm tra độ phẳng, mạch và cao độ liên tục. Không chờ đến khi toàn bộ sàn hoàn thành mới phát hiện một dãy gạch bị lệch. Khi đó, keo đã bắt đầu đóng rắn và chi phí sửa chữa tăng nhanh.
Định mức, chiều dày và thời gian: ba thông số dễ bị làm sai
Trong thi công thực tế, ba sai lệch thường gặp nhất là dùng quá ít keo, thêm quá nhiều nước và kéo dài thời gian mở của lớp keo. Cả ba đều làm suy giảm đường truyền lực giữa gạch mới và nền cũ.
Định mức khoảng 5 kg/m² không phải con số bất biến
Định mức trung bình khoảng 5 kg/m² được ghi nhận khi lớp keo có chiều dày khoảng 4 mm. Mức tiêu hao thực tế còn phụ thuộc vào:
- Độ phẳng của nền.
- Kích thước và độ cong vênh của viên gạch.
- Loại bay răng cưa.
- Mức độ phủ yêu cầu ở mặt sau viên gạch.
- Kỹ thuật ép và điều chỉnh.
- Phần keo bị hao hụt trong quá trình trộn, vận chuyển và vệ sinh.
Nếu nền không phẳng, không nên giải quyết bằng cách tăng chiều dày keo tùy tiện. Cần sửa nền trước. Lớp keo dán gạch có nhiệm vụ tạo liên kết và truyền lực. Nó không phải lớp vữa san nền đa năng.
Lớp quá mỏng cũng tạo ra điểm yếu
Khi lượng keo không đủ, các rãnh sau bay không được ép kín. Mặt sau viên gạch chỉ tiếp xúc tại một số đường gân. Tải trọng sử dụng bị phân bố không đều. Vùng rỗng bên dưới có thể phát sinh tiếng bộp, nứt viên hoặc gãy mạch khi chịu lực lặp lại.
Đặc biệt với gạch khổ lớn, sai lệch này nghiêm trọng hơn vì diện tích viên tăng nhưng độ phẳng mặt sau không tuyệt đối. Một số điểm tựa cục bộ sẽ phải gánh ứng suất cao hơn.
Kiểm soát thời gian thi công
Keo sau khi trộn có thời gian thi công giới hạn. Lớp keo đã trải trên nền còn có thời gian làm việc riêng. Nhiệt độ cao, gió mạnh và nền hút nước có thể làm bề mặt keo mất ẩm nhanh.
Khi sờ hoặc quan sát thấy lớp keo đã tạo màng, không tiếp tục đặt gạch lên với kỳ vọng búa cao su sẽ phục hồi liên kết. Phần keo đã mất tính dính bề mặt cần được xử lý lại theo quy trình phù hợp. Dán tiếp lên lớp keo đã khô mặt là cách tạo ra một mặt phân cách yếu ngay từ đầu.
Sai tỷ lệ nước và sai thời điểm đặt gạch thường phá hỏng liên kết trước cả khi công trình đi vào sử dụng.
Các vị trí cần kiểm soát riêng sau khi dán
Dán gạch chồng gạch không kết thúc ở việc đặt kín các viên gạch. Một công trình còn có các mối nối, góc giao, khe tiếp giáp và vùng thay đổi vật liệu. Đây là nơi chuyển vị tập trung.
Sàn bê tông, tường, cột, bậc và các mảng hoàn thiện có thể có module đàn hồi khác nhau. Khi nhiệt độ hoặc độ ẩm thay đổi, mỗi khu vực phản ứng khác nhau. Nếu toàn bộ chuyển vị bị ép vào đường mạch cứng, mạch sẽ nứt hoặc keo bị xé.
Các khe co giãn và khe tiếp giáp phải được giữ đúng vị trí hoặc xử lý bằng hệ chất trám khe phù hợp. Không trám cứng mọi khe bằng keo xi măng rồi kỳ vọng mạch sẽ tự ổn định. Với các vị trí có chuyển vị, cần xem xét chất trám khe co giãn như các dòng Sikaflex phù hợp với nền và điều kiện tiếp xúc.
Khu vực ẩm ướt còn có thêm nguy cơ mao dẫn. Nước có thể di chuyển qua các mạch, chân tường hoặc điểm xuyên sàn nếu hệ chống thấm bên dưới đã suy giảm. Keo dán gạch tạo liên kết cho lớp lát. Nó không thay thế lớp chống thấm toàn khối.
Mạch gạch và khe tiếp giáp
Mạch gạch phải có bề rộng phù hợp với kích thước viên, sai số thi công và điều kiện biến dạng. Không nên ép các viên gạch sát tuyệt đối tại mọi vị trí, đặc biệt ở sàn có diện tích lớn hoặc khu vực chịu thay đổi nhiệt độ.
Tại chân tường, mép sàn, góc cột và nơi tiếp giáp giữa hai vật liệu, cần phân biệt mạch trang trí với khe chuyển vị. Mạch trang trí có thể dùng vật liệu chèn mạch thông thường. Khe có chuyển vị cần vật liệu trám khe có khả năng biến dạng tương ứng.
Nếu bỏ qua điểm này, hư hỏng có thể xuất hiện dù độ bám dính giữa keo và nền vẫn đạt. Nguyên nhân lúc đó không phải bong keo, mà là ứng suất do chuyển vị bị khóa trong hệ hoàn thiện.
Những lỗi thi công làm hệ keo mất tác dụng
Một số lỗi không thể nhìn thấy ngay trong ngày hoàn thiện. Chúng tích lũy dưới tác động của tải trọng, rung động, nước và thay đổi nhiệt độ.
Dán lên gạch cũ chưa kiểm tra bộp
Đây là lỗi nguy hiểm nhất. Viên gạch mới che đi âm thanh và trạng thái của viên gạch cũ. Khi lớp cũ bong tiếp, cả mảng hoàn thiện phía trên mất điểm tựa.
Không xử lý nền quá trơn
Nền bóng làm giảm liên kết cơ học. Nếu không tạo nhám hoặc dùng lớp lót theo yêu cầu, keo có thể bong thành mảng tại mặt tiếp giáp. Vết phá hủy thường sạch và phẳng. Đây là dấu hiệu của mất bám dính, không phải thiếu cường độ trong thân keo.
Trộn keo bằng cảm tính
Thêm nước cho đến khi thấy dễ trét là phương pháp không kiểm soát. Hai mẻ keo trong cùng một phòng có thể có độ đặc khác nhau. Sự không đồng nhất tạo ra chênh lệch co ngót và bám dính giữa các vùng.
Dùng keo để sửa nền lệch lớn
Lớp keo dày bất thường làm thay đổi điều kiện đóng rắn. Một số vùng khô nhanh ở bề mặt nhưng bên dưới còn mềm. Khi chịu tải, viên gạch bị ép lệch và lớp keo bị xé.
Trải keo quá rộng
Đội thi công không thể đặt gạch trong khoảng thời gian cho phép nếu diện tích trải vượt quá năng lực thao tác. Keo mất tính công tác trước khi viên gạch được ép xuống. Bề mặt nhìn vẫn kín, nhưng liên kết thực tế đã suy giảm.
Không tính cao độ sau cải tạo
Dán chồng làm sàn cao lên. Nếu không kiểm tra trước, lỗi sẽ tập trung ở cửa, bậc, nhà vệ sinh và khu vực thoát nước. Đây là loại sai sót phải đục sửa sau cùng, khi toàn bộ lớp hoàn thiện mới đã được thi công.
Trình tự kiểm soát trước khi nghiệm thu
Một hệ dán đạt yêu cầu không chỉ được đánh giá bằng màu sắc và đường mạch. Cần kiểm tra theo chuỗi nguyên nhân – kết quả:
- Nền cũ có còn vùng phồng, nứt, bộp hoặc bong không?
- Các điểm dầu mỡ, bụi và chất bẩn đã được loại bỏ hoàn toàn chưa?
- Bề mặt bóng đã được tạo nhám hoặc xử lý lớp lót chưa?
- Loại keo có phù hợp với kích thước gạch, tải trọng và độ ẩm khu vực không?
- Nước trộn có nằm trong khoảng kỹ thuật của bao keo không?
- Lớp keo có được trét bằng bay răng cưa với chiều dày kiểm soát không?
- Gạch khổ lớn có được tăng độ phủ ở mặt sau không?
- Viên gạch có được điều chỉnh trong thời gian cho phép không?
- Các khe tiếp giáp và khe co giãn có bị chèn cứng sai nguyên tắc không?
- Cao độ hoàn thiện có ảnh hưởng đến cửa, phễu thu và hướng thoát nước không?
Các khu vực nghi ngờ cần được kiểm tra cục bộ trước khi nghiệm thu toàn bộ. Không nên dùng vài viên có vẻ chắc để kết luận cho cả mặt sàn. Hư hỏng nền thường phân bố không đồng đều.
Kết luận: phải xử lý nền trước khi xử lý bề mặt
Keo dán gạch chồng gạch Sika phù hợp với hướng cải tạo giảm đục phá, giảm xà bần và rút ngắn thời gian thi công khi nền cũ còn ổn định. Các dòng chuyên dụng như SikaCeram-200 HP và SikaCeram-255 Big Slab có thể được cân nhắc cho gạch khổ lớn, khu vực ẩm ướt hoặc vị trí chịu tải cao. Nhưng lựa chọn vật liệu chỉ là một nửa của bài toán.
Nửa còn lại nằm ở bề mặt. Nền phải được kiểm tra, làm sạch, tạo nhám và sửa chữa đúng mức. Tỷ lệ nước phải được kiểm soát trong khoảng 5,5–6,5 lít cho bao 25 kg đối với các sản phẩm dạng bột tương ứng. Lớp keo thường được thi công ở chiều dày khoảng 3–4 mm. Định mức tham khảo khoảng 5 kg/m². Thời gian chỉnh sửa gạch chỉ khoảng 10–20 phút. Những thông số này phải được đọc cùng điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, loại nền và hướng dẫn kỹ thuật của từng sản phẩm.
Khuyến cáo thi công cần được giữ ở mức cứng rắn: không dán phủ lên nền đã mất liên kết, không bỏ qua dầu mỡ, không dùng nước để chữa hỗn hợp keo đã bắt đầu đông kết và không dùng keo dán để che sai lệch kết cấu. Lớp gạch mới chỉ bền khi nền cũ đủ ổn định để tiếp nhận nó.