Tin tức

Giải pháp khắc phục tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng và vướng mắc mặt bằng

Theo thông tin từ Báo Thanh Hóa và Người Đưa Tin, tại Hội nghị đối thoại doanh nghiệp tỉnh Thanh Hóa chiều 27/8/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Tô Anh Dũng cùng Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Nguyễn…

Giải pháp khắc phục tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng và vướng mắc mặt bằng

Tháo gỡ điểm nghẽn về vật liệu xây dựng, đất đai và giải phóng mặt bằng

Theo thông tin từ Báo Thanh Hóa và Người Đưa Tin, tại Hội nghị đối thoại doanh nghiệp tỉnh Thanh Hóa chiều 27/8/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Tô Anh Dũng cùng Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Nguyễn Xuân Hưng đã đối thoại trực diện về tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng. Trên bàn mổ kỹ thuật, con số 16,065 triệu m³/năm tổng công suất 221 mỏ khoáng sản không đồng nghĩa với nguồn cung ổn định - vấn đề nằm ở khe hở giữa giá mua thực tế tại mỏ và đơn giá thanh toán dự án đầu tư công. Chênh lệch này đang ép nhà thầu vào thế lỗ, đẩy áp lực ngược lên chất lượng cốt liệu đầu vào - một điểm gãy có khả năng ăn mòn bê tông từ tận gốc.

Số liệu nguồn cung từ Sở Nông nghiệp và Môi trường

Báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thanh Hóa cung cấp một bức tranh phân lớp rõ ràng. Toàn tỉnh hiện có 221 mỏ khoáng sản vật liệu xây dựng đang hoạt động, kèm 25 dự án đăng ký thu hồi khoáng sản đá xây dựng và đất san lấp với khối lượng 27,58 triệu m³.

  • Đất san lấp: 31 mỏ vận hành đạt công suất 7,99 triệu m³/năm; 23 dự án đăng ký thu hồi khoáng sản trong phạm vi dự án đầu tư xây dựng công trình (18,44 triệu m³); 20 giấy xác nhận thu hồi do Chủ tịch UBND xã cấp (khoảng 0,53 triệu m³). Tổng nguồn cung đất san lấp đạt khoảng 26,95 triệu m³ - đáp ứng đủ công trình đầu tư công nhưng chỉ đáp ứng 46% tổng nhu cầu toàn tỉnh.
  • Đá xây dựng: 182 mỏ hoạt động, công suất 7,78 triệu m³/năm, kết hợp 6 giấy xác nhận thu hồi 7,9 triệu m³. Tổng cung ra thị trường đạt 15,58 triệu m³/năm - đủ cho cả dự án đầu tư công lẫn dân dụng.
  • Cát xây dựng: chỉ 8 mỏ đang hoạt động với công suất 0,295 triệu m³/năm, kết hợp nguồn cát nhân tạo khoảng 2,15 triệu m³/năm, tổng cung ứng đạt 2,445 triệu m³/năm.

Điểm gãy thực tế tại hiện trường

Theo phản ánh của ông Nguyễn Thanh Quân, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Minh Tuấn, các dự án đầu tư công trên địa bàn tỉnh đang đối mặt với nghịch lý: nhà thầu mua vật liệu với giá cao, khi thanh toán theo đơn giá dự án lại thấp hơn - chênh lệch này kéo theo thua lỗ. Nhiều mỏ có trữ lượng nhỏ, công suất thấp không đáp ứng nhu cầu, buộc đơn vị thi công phải chuyển sang cát nhân tạo hoặc nguồn ngoài tỉnh.

Đặt dưới lăng kính giám sát kết cấu, cát là thành phần quyết định module đàn hồi và cường độ bám dính giữa xi măng với cốt liệu. Khi nguồn cát tự nhiên trên địa bàn tỉnh chỉ còn 0,295 triệu m³/năm, xác suất bị trộn lẫn tạp chất hữu cơ, bụi sét hoặc phải sử dụng cát nghiền có modun hạt không đồng đều tăng lên rõ rệt. Hệ quả kéo theo là hiện tượng co ngót không đều, nứt bề mặt và suy giảm khả năng chống thấm từ chính khối bê tông kết cấu.

Khuyến cáo thi công khi nguồn cát bị ép

Chúng ta cần giám sát chặt nguồn cát đầu vào bằng thí nghiệm modun hạt, hàm lượng bùn sét và tạp chất hữu cơ trước mỗi đợt đổ bê tông. Khi phải chuyển sang cát nhân tạo, tỷ lệ nước/xi măng cần được điều chỉnh và bổ sung phụ gia giảm nước để giữ cường độ thiết kế.

Lớp chống thấm bên ngoài chỉ phát huy tác dụng khi khối bê tông đạt độ đặc chắc tối thiểu - không có sản phẩm hóa chất xây dựng nào bù đắp được cốt liệu bị nhiễm bẩn. Yêu cầu chủ đầu tư và nhà thầu lập phiếu kiểm soát chất lượng cát theo từng lô, từ chối nghiệm thu khi chỉ tiêu thí nghiệm không đạt chuẩn. Mọi giải pháp Sika về sau chỉ có giá trị khi bê tông nền đã đứng vững trên cốt liệu sạch.

Diễn biến mới