Tin tức

Giải pháp ổn định nguồn cung vật liệu xây dựng và chống thấm tại Cao Bằng

Theo thông tin từ Pháp Luật Plus, tỉnh Cao Bằng đang có hệ thống sản xuất và khai thác vật liệu xây dựng đủ rộng để phục vụ các công trình lớn, nhưng mức độ tự chủ và khả năng cung ứng giữa các khu vực vẫn không đồng đều.

Giải pháp ổn định nguồn cung vật liệu xây dựng và chống thấm tại Cao Bằng

Tháo gỡ khó khăn, bảo đảm nguồn cung vật liệu xây dựng

Đây là điểm cần lưu ý với các dự án bê tông, hạ tầng và chống thấm: nguồn vật liệu có thể được bảo đảm trên tổng thể, nhưng chưa chắc ổn định tại từng địa bàn hoặc từng thời điểm thi công.

Vấn đề không chỉ nằm ở khối lượng vật liệu. Với công tác chống thấm, sự gián đoạn nguồn cung có thể làm đứt gãy trình tự xử lý bề mặt, thi công lớp lót, lớp phủ và bảo dưỡng. Khi vật liệu thay thế được đưa vào công trường mà không kiểm tra tương thích, nguy cơ suy giảm cường độ bám dính và phát sinh đường thấm mao dẫn sẽ tăng lên.

Nguồn cung nhìn từ các thông số thực tế

Theo số liệu được công bố, Cao Bằng hiện có 26 mỏ đá xây dựng còn hiệu lực, tổng trữ lượng 24,862 triệu m³, công suất khai thác 1,467 triệu m³ nguyên khối mỗi năm. Sản lượng khai thác đạt khoảng 1,403 triệu m³ trong năm 2025 và khoảng 656 nghìn m³ trong 6 tháng đầu năm 2026. Khả năng cung ứng trong 6 tháng cuối năm được ước tính khoảng 1,14 triệu m³ nguyên khối.

Nguồn cát, sỏi gồm 5 mỏ được cấp phép, tổng trữ lượng 5,343 triệu m³, tổng công suất 484 nghìn m³ mỗi năm. Khả năng cung ứng cát xây dựng trong năm 2026 dự kiến trên 623 nghìn m³. Ngoài ra, địa phương có 2 giấy phép thu hồi cát, sỏi5 mỏ khai thác đá để sản xuất cát nghiền.

Ở nhóm vật liệu xây, 4 dây chuyền gạch tuynel có tổng công suất thiết kế 106 triệu viên quy tiêu chuẩn mỗi năm. Năm 2025, sản lượng đạt khoảng 90,75 triệu viên. Có thêm 79 cơ sở gạch không nung, tổng công suất thiết kế khoảng 200 triệu viên mỗi năm. Tổng sản lượng gạch xây năm 2026 được dự báo trên 142 triệu viên quy tiêu chuẩn.

Các con số này cho thấy năng lực cung ứng vật liệu cơ bản đang tồn tại. Tuy nhiên, năng lực danh nghĩa không đồng nhất với khả năng cấp vật liệu đúng tiến độ cho từng công trường. Khoảng cách vận chuyển, năng lực tập kết, chất lượng lô hàng và khả năng cung ứng tại khu vực xa trung tâm vẫn là các biến số phải kiểm soát.

Điểm nghẽn nằm ở tính tự chủ và phân bổ

Nguồn xi măng tại Cao Bằng hiện có 1 trạm nghiền, công suất thiết kế 85.000 tấn mỗi năm. Nhưng clinker vẫn phụ thuộc vào nhà máy ngoài tỉnh. Đây là mắt xích có độ nhạy cao: khi nguyên liệu đầu vào bị gián đoạn, kế hoạch cấp xi măng và các công tác liên quan đến bê tông, vữa sửa chữa hoặc lớp nền có thể bị ảnh hưởng.

Đối với bê tông thương phẩm, địa phương có 6 cơ sở, tổng công suất thiết kế khoảng 600 m³/giờ, sản lượng trung bình từ 550.000 đến 600.000 m³ mỗi năm. Dù vậy, các trạm chủ yếu tập trung ở khu vực trung tâm. Khả năng cung ứng tại địa bàn xa được đánh giá là chưa kịp thời.

Với công trình chống thấm, đây không phải chi tiết phụ. Bê tông nền, tường và kết cấu ngầm cần đạt trạng thái phù hợp trước khi xử lý chống thấm. Nếu tiến độ cấp bê tông bị kéo giãn, mạch ngừng thi công có thể tăng. Nếu bề mặt phải chờ lâu ngoài điều kiện kiểm soát, bụi bẩn, độ ẩm và khuyết tật bề mặt sẽ tác động trực tiếp đến cường độ bám dính của hệ vật liệu phía sau.

Do đó, khi nguồn cung được thông báo là cơ bản đáp ứng nhu cầu, không nên hiểu là mọi công trường đều có thể nhận vật liệu ngay lập tức. Cần tách ba lớp kiểm tra:

  • Khối lượng: sản lượng dự kiến có đáp ứng tổng nhu cầu của dự án hay không.
  • Tiến độ: vật liệu có đến đúng thời điểm trước khi chuyển bước thi công hay không.
  • Tính tương thích: vật liệu thay thế có phù hợp với nền bê tông, vữa, mạch ngừng và hệ chống thấm đã thiết kế hay không.

Không thay vật liệu theo áp lực tiến độ

Các dự án lớn tại Cao Bằng gồm tuyến cao tốc Đồng Đăng – Trà Lĩnh, các công trình giao thông, hạ tầng kỹ thuật, nhà ở xã hội, trường học, bệnh viện và những chương trình mục tiêu quốc gia. Nguồn vật liệu vì vậy chịu áp lực phân bổ cho nhiều nhóm công trình cùng lúc. Một số thông tin khác cũng đặt vấn đề ưu tiên cung ứng vật liệu cho các dự án đầu tư công, trong khi công trình trọng điểm vẫn đối mặt với nguy cơ thiếu vật liệu.

Trong bối cảnh đó, hồ sơ vật liệu cần được kiểm tra trước khi đưa vào thi công. Với vật liệu chống thấm, tối thiểu phải đối chiếu chủng loại, lô sản xuất, điều kiện bảo quản, thời hạn sử dụng và yêu cầu chuẩn bị bề mặt theo hồ sơ kỹ thuật. Không được tự ý thay đổi sản phẩm chỉ vì vật liệu có tên gọi hoặc công dụng gần tương đương.

Một hệ chống thấm thất bại thường không phá hủy ngay lập tức. Nước sẽ xâm nhập qua vùng bám dính yếu, khe tiếp giáp hoặc khuyết tật mao dẫn. Sau đó, hiện tượng bong tách và thấm ngược mới bộc lộ. Khi ấy, chi phí đục bỏ, làm sạch, phục hồi kết cấu và thi công lại sẽ lớn hơn nhiều so với chi phí kiểm soát nguồn cung ban đầu.

Khuyến cáo thi công là rõ ràng: phải lập kế hoạch vật liệu theo từng giai đoạn, xác nhận năng lực cấp hàng trước khi mở mũi thi công và nghiệm thu từng lớp trước khi chuyển bước. Không đánh đổi tính tương thích của hệ chống thấm lấy vài ngày tiến độ.

Diễn biến mới