
Tại Hội nghị tham vấn chính sách tổ chức chiều 9/9 ở Hà Nội, Thứ trưởng Nguyễn Văn Sinh xác định quan điểm xuyên suốt là tôn trọng cơ chế thị trường, loại bỏ cơ chế "xin — cho", không tái lập quy hoạch sản phẩm và không phát sinh thêm giấy phép mới. Đối với lĩnh vực hóa chất xây dựng và vật liệu chống thấm, đây là thông số cần cắm thẳng vào hồ sơ nghiệm thu và quy trình hợp quy hiện hành.
Điểm nghẽn kỹ thuật của khung pháp lý cũ
Chuỗi VLXD hiện chịu điều chỉnh của ít nhất bảy đạo luật chuyên ngành: Luật Xây dựng 135/2025/QH15, Luật Địa chất và khoáng sản 54/2024/QH15, Luật Bảo vệ môi trường 72/2020/QH14, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Luật Quy hoạch 112/2025/QH15, Luật Đầu tư 143/2025/QH15 — cùng các quy định về đất đai, thuế, tín dụng, năng lượng, khoa học công nghệ và quản lý ngoại thương. Mỗi công đoạn mang một hệ thống riêng, nhưng cơ chế kế thừa xuyên suốt chưa hình thành. Hệ quả đo được gồm:
- Trùng lặp kiểm tra: kết quả thử nghiệm, chứng nhận, đánh giá sự phù hợp chưa có nguyên tắc kế thừa chuyên ngành, kéo theo yêu cầu thử lặp và hồ sơ chồng lấn giữa các khâu.
- Tiêu chuẩn lỗ hổng: cát nghiền, cát biển, chất nạo vét, đất đá thải mỏ, quặng đuôi và nguyên liệu thay thế chưa có tiêu chuẩn, định mức hoặc hướng dẫn kỹ thuật.
- Ranh giới mờ: chất thải — phế thải — phụ phẩm — vật liệu thu hồi chưa có tiêu chí chuyển đổi rõ ràng sang nguyên liệu hay sản phẩm VLXD.
- Dữ liệu phân tán: năng lực sản xuất, sản lượng, nguyên liệu, chất lượng, giá cả, nhu cầu chưa có cơ sở dữ liệu dùng chung; năng lực chuyển đổi số và hậu kiểm giữa các địa phương chưa đồng đều.
- Cung — cầu lệch pha: tại các đợt đồng thời nhiều dự án hạ tầng, thị trường từng thiếu cục bộ cát, đá, vật liệu san lấp; điều tra — quy hoạch — cấp phép có độ trễ so với nhu cầu thực tế, giá biến động theo khả năng điều phối liên tỉnh.
Sáu trụ cột chính sách trong dự thảo Luật
Theo ông Nguyễn Hữu Thọ — Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, Môi trường và Vật liệu xây dựng, sáu nhóm chính sách được nghiên cứu gồm:
- Hoàn thiện công cụ chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển VLXD.
- Đổi mới công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên — năng lượng, thúc đẩy vật liệu mới, vật liệu xanh.
- Quản lý nguyên liệu và bảo đảm nguồn cung.
- Sử dụng VLXD trong công trình.
- Thu hồi, tái chế chất thải làm nguyên liệu, phát triển kinh tế tuần hoàn.
- Quản lý nhà nước, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu VLXD.
Nguyên tắc được nhấn mạnh tại hội nghị: phương thức quản lý chuyển từ tiền kiểm nặng sang phân cấp — số hóa — hậu kiểm; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm và nguồn lực; chỉ luật hóa những vấn đề thực sự cần thiết, ổn định và thuộc thẩm quyền của Quốc hội.
Điểm chạm trực tiếp với vật liệu chống thấm
Với nhóm hóa chất xây dựng và vật liệu chống thấm, ba thông số cần khoan thẳng vào quy trình kỹ thuật hiện hành:
- Tiêu chuẩn hóa chuyên ngành: khi nhóm "vật liệu mới, vật liệu xanh, vật liệu tái chế" được hệ thống hóa, các dòng chống thấm gốc polymer cải tiến, lớp phủ tiết kiệm năng lượng cần lộ trình chứng nhận và tiêu chuẩn rõ ràng.
- Kế thừa kết quả thử nghiệm: khi nguyên tắc kế thừa chứng nhận được chuẩn hóa, số lần thử nghiệm lặp cho cùng một chủng loại sản phẩm sẽ giảm — chi phí hợp quy cho mỗi lô hàng được nén xuống tương ứng.
- Truy xuất dữ liệu: khi cơ sở dữ liệu VLXD dùng chung vận hành, mã sản phẩm, số lô, kết quả thử nghiệm có thể tra cứu — hạn chế tình trạng trộn hàng không rõ xuất xứ trong cùng chủng loại.
Từ góc độ giám sát kỹ thuật, khuyến cáo cứng rắn cho đơn vị thi công và quản lý dự án: khi Luật được Quốc hội thông qua, cần đối chiếu ngay bộ tiêu chuẩn kỹ thuật của từng dòng sản phẩm chống thấm với danh mục tiêu chuẩn bắt buộc trong luật mới; lập sổ theo dõi lô hàng theo mã sản phẩm — ngày sản xuất — số lô thử nghiệm; từ chối nghiệm thu khi thiếu một trong ba mục trên. Khi khung pháp lý đồng bộ, biên an toàn của kết cấu chống thấm sẽ không còn phụ thuộc vào may rủi thị trường.