
Khi đó, câu hỏi thường được đặt ra là: trước đây đã trộn phụ gia chống thấm bê tông rồi, tại sao công trình vẫn thấm?
Tôi nói thẳng với anh em thi công: phụ gia chống thấm bê tông có tác dụng, nhưng nó không phải cái áo giáp bọc kín cả công trình. Nó hỗ trợ làm đặc chắc khối bê tông, giảm đường đi của nước qua lỗ rỗng mao quản. Còn khe nứt, mạch ngừng, cổ ống, chân tường, khu vực co giãn hoặc chịu áp lực nước lớn vẫn phải xử lý bằng hệ chống thấm phù hợp.
Dùng phụ gia đúng chỗ thì bê tông chắc hơn, ít hút nước hơn, giảm nguy cơ xì nước từ bên trong. Dùng sai tỷ lệ, đổ bê tông ẩu, không bảo dưỡng hoặc tưởng rằng chỉ cần đổ thêm hóa chất là xong thì công trình vẫn phồng rộp, bong tróc và thấm như thường.
Phụ gia chống thấm bê tông làm được gì trong khối bê tông?
Bê tông nhìn bên ngoài có vẻ đặc, nhưng bên trong vẫn tồn tại các lỗ rỗng, mao quản và đường dẫn nhỏ hình thành trong quá trình thủy hóa xi măng. Nước có thể đi theo những đường này, đặc biệt khi bê tông bị rung lắc kém, cấp phối nhiều nước, bảo dưỡng không đủ hoặc có chênh lệch áp lực nước giữa hai phía kết cấu.
Phụ gia chống thấm bê tông được đưa vào hỗn hợp nhằm hạn chế khả năng truyền dẫn độ ẩm trong khối bê tông. Tùy dòng sản phẩm, cơ chế có thể liên quan đến các hạt mịn hoặc hoạt chất kỵ nước phản ứng với canxi hydroxit trong quá trình thủy hóa xi măng. Nói theo kiểu công trường: nó hỗ trợ bịt và làm nghẽn bớt những đường nước nhỏ nằm trong thân bê tông.
Nhưng phải hiểu đúng chữ “hỗ trợ”. Phụ gia không tự chạy đi vá một vết nứt đang mở. Nó cũng không thể bịt kín một khe tiếp giáp giữa bê tông cũ và bê tông mới nếu khe đó không được xử lý. Càng không thể thay cho việc quấn, trám, gia cố cổ ống xuyên sàn hoặc xử lý mạch ngừng.
Tác dụng thực tế của phụ gia chống thấm thường nằm ở bốn điểm:
- Giảm độ rỗng và hạn chế sự truyền dẫn nước trong bê tông.
- Hỗ trợ tăng độ đặc chắc của bê tông nếu cấp phối, độ sụt và quá trình đầm được kiểm soát.
- Giảm nguy cơ hút ẩm từ bên trong kết cấu, nhất là ở bể chứa, tầng hầm, tường chắn và các cấu kiện tiếp xúc thường xuyên với nước.
- Tạo thêm một lớp bảo vệ cho bê tông, nhưng không thay thế lớp chống thấm bề mặt ở nơi có nguy cơ nứt hoặc chịu áp lực nước lớn.
Điểm cuối là chỗ nhiều nhà thầu hay nhầm. Một khối bê tông đặc chắc vẫn có thể thấm qua vết nứt. Một sàn mái có phụ gia trộn khối vẫn có thể bị nước xuyên qua khi bê tông co ngót, nền chuyển vị hoặc nhiệt độ thay đổi mạnh. Hóa chất nằm trong thân bê tông không thể biến một bề mặt đang nứt thành màng đàn hồi.
Phụ gia chống thấm giúp bê tông kín hơn từ bên trong. Nó không biến bê tông thành lớp màng chống thấm có thể co giãn theo vết nứt.
Có nên dùng phụ gia chống thấm cho bê tông tươi?
Câu trả lời là có, nếu kết cấu cần giảm độ thấm và phương án cấp phối được tính từ đầu. Nhưng không phải cứ gọi xe bê tông tới công trường rồi đổ thêm vài can phụ gia là thành bê tông chống thấm.
Với bê tông tươi, phụ gia phải được lựa chọn theo loại xi măng, cấp phối cốt liệu, độ sụt, thời gian vận chuyển, nhiệt độ môi trường và yêu cầu cường độ. Trạm trộn cần kiểm soát lượng nước, thời điểm đưa phụ gia vào và khả năng tương thích giữa các loại hóa chất. Nếu vừa dùng phụ gia giảm nước, vừa dùng phụ gia chống thấm, vừa thêm chất hỗ trợ bơm mà không có thử nghiệm cấp phối, hỗn hợp có thể thay đổi rất nhanh: tách nước, mất độ sụt, ninh kết bất thường hoặc khó đầm.
Tôi từng gặp nhiều công trình xử lý theo kiểu rất nguy hiểm: bê tông đã tới công trường, độ sụt không đạt, anh em tự ý cho thêm nước rồi đổ thêm phụ gia để “cứu”. Cách này làm loãng hồ xi măng, thay đổi tỷ lệ nước trên xi măng và khiến chất lượng bê tông không còn giống cấp phối ban đầu. Bề mặt lúc mới hoàn thiện có thể đẹp, nhưng sau này lỗ rỗng nhiều, co ngót lớn, nước vẫn tìm được đường đi.
Phụ gia chống thấm bê tông tươi chỉ phát huy khi các phần việc nền tảng không bị làm ẩu:
1. Cấp phối được xác định trước khi thi công.
Không dùng định mức truyền miệng kiểu một bao xi măng cho thêm một nắp hóa chất. Mỗi sản phẩm có cơ chế và tỷ lệ dùng riêng. Định mức phải dựa trên khối lượng xi măng, không tính theo cảm giác hoặc theo thể tích cả mẻ bê tông.
2. Lượng nước được kiểm soát.
Thêm nước tại công trường để bê tông dễ bơm là một trong những cách nhanh nhất làm giảm độ đặc chắc. Nếu độ sụt không đạt, phải xác định nguyên nhân và điều chỉnh bằng phụ gia phù hợp, không tự tiện đổ nước.
3. Bê tông được đầm kỹ.
Phụ gia không lấp được những ổ rỗng do dùi đầm thiếu, bỏ sót góc hoặc để cốt liệu bị phân tầng. Dùi rung phải đi đủ vị trí, thao tác đều, tránh vừa đầm thiếu vừa đầm quá lâu làm tách nước.
4. Mạch ngừng và chi tiết xuyên sàn được xử lý riêng.
Mạch ngừng cần vệ sinh, làm nhám và dùng giải pháp kết nối hoặc vật liệu trám phù hợp. Cổ ống phải có chi tiết chống thấm, không đổ bê tông bao quanh rồi chờ hóa chất tự giải quyết.
5. Bảo dưỡng sau khi đổ không được bỏ qua.
Bê tông có trộn phụ gia vẫn cần giữ ẩm thường xuyên trong tối thiểu 7 ngày để quá trình đóng rắn diễn ra đầy đủ. Không có chuyện đổ xong, hôm sau tháo cốp pha rồi để nắng phơi khô là bê tông tự đạt khả năng chống thấm.
Nếu nhà thầu đang hỏi “phụ gia chống thấm bê tông có cần thiết không”, tôi sẽ không trả lời bằng một chữ có hoặc không. Với tầng hầm, bể nước, tường chắn đất, sàn vệ sinh hay kết cấu tiếp xúc ẩm liên tục, phụ gia có thể là một phần đáng giá trong hệ thống bảo vệ. Với sàn mái lộ thiên, ban công, sân thượng có nhiều khe nứt và co giãn, chỉ dùng phụ gia trộn khối là chưa đủ.
Đừng nhầm phụ gia trộn khối với SikaLatex
Trên công trường, tôi thấy một lỗi lặp đi lặp lại: gọi tất cả hóa chất chống thấm là “phụ gia bê tông”, sau đó lấy sản phẩm dùng cho vữa trát hoặc lớp kết nối đem đổ vào bê tông tươi. Đây là cách làm thiếu kiểm soát.
Dòng SikaLatex thường được dùng để cải thiện vữa trát, lớp hồ dầu kết nối hoặc lớp vữa chống thấm. Khi pha cho các ứng dụng này, tỷ lệ thường được nhắc đến là 1 lít SikaLatex với 3 lít nước. Nhưng tỷ lệ đó không có nghĩa là cứ lấy SikaLatex pha theo cách này rồi đổ thẳng vào một mẻ bê tông là xong.
Phải tách rõ ba nhóm công việc:
- Phụ gia cho bê tông tươi: đưa vào cấp phối nhằm điều chỉnh tính công tác, độ đặc chắc, thời gian ninh kết hoặc khả năng giảm nước.
- Phụ gia cho vữa: dùng trong lớp trát, lớp cán hoặc vữa sửa chữa để tăng độ bám dính, giảm hút nước và hỗ trợ chống thấm.
- Lớp kết nối giữa bê tông cũ và vật liệu mới: thường cần hồ dầu hoặc vữa kết nối có thành phần, tỷ lệ và thời gian thi công riêng.
SikaLatex có thể hữu ích trong lớp vữa hoặc lớp lót kết nối, nhưng nhà thầu phải đọc đúng hướng dẫn của sản phẩm đang dùng, xác định đúng nền và đúng mục đích. Đổ nhầm vật liệu, trộn nhầm tỷ lệ hoặc để lớp kết nối khô trắng rồi mới cán vữa lên là dễ “nhả chân”. Lớp vữa phía trên có thể không bám chắc, sau đó bong rộp theo từng mảng.
Trong xử lý chống thấm, tôi luôn tách phần việc thành hai câu hỏi:
- Nước đang đi xuyên qua thân bê tông hay đi theo khe, mạch, vết nứt và chi tiết tiếp giáp?
- Vật liệu đang cần là phụ gia cho bê tông, phụ gia cho vữa hay lớp phủ bề mặt?
Trả lời sai câu hỏi đầu tiên thì mua đúng thương hiệu cũng không cứu được công trình.
B6, B8, B10, B12 nói lên điều gì?
Khi nói đến khả năng chịu áp lực nước của bê tông, anh em thường gặp các cấp B6, B8, B10, B12 hoặc ký hiệu tương đương W6, W8, W10, W12. Đây là cách phân cấp khả năng chịu áp lực nước, tương ứng từ 6 đến 12 atm.
Hiểu đơn giản, cấp càng cao thì yêu cầu về khả năng hạn chế nước xuyên qua bê tông càng lớn. Nhưng đừng nhìn vào mỗi con số trên hồ sơ rồi kết luận rằng công trình chắc chắn không thấm. Cấp chống thấm của bê tông là kết quả của cả hệ thống: vật liệu, cấp phối, thi công, đầm rung, mạch ngừng, bảo dưỡng và điều kiện làm việc thực tế.
| Cấp chống thấm | Áp lực nước tương ứng | Cách nhìn khi thi công |
|---|---|---|
| B6 / W6 | 6 atm | Phù hợp với yêu cầu chống thấm ở mức cơ bản đến trung bình, nhưng vẫn phải xử lý kỹ các mạch và khe |
| B8 / W8 | 8 atm | Dùng cho kết cấu cần khả năng cản nước cao hơn, đòi hỏi cấp phối và bảo dưỡng chặt chẽ |
| B10 / W10 | 10 atm | Áp lực nước lớn, không thể chỉ dựa vào phụ gia; chi tiết cấu tạo phải được kiểm soát |
| B12 / W12 | 12 atm | Yêu cầu cao, cần phối hợp bê tông đặc chắc với hệ xử lý mạch, khe và bề mặt phù hợp |
Các con số này không phải giấy phép để thi công cẩu thả. Bê tông đạt cấp chống thấm theo thiết kế nhưng bị nứt do co ngót vẫn có thể xì nước. Tường tầng hầm không nứt nhưng mạch ngừng bị rỗ cũng vẫn thấm. Sàn bể nước có lớp bê tông tốt nhưng cổ ống không được gia cố thì nước vẫn luồn qua chân ống.
Ở hiện trường, tôi thường yêu cầu anh em đánh dấu riêng các vị trí có nguy cơ cao trước khi đổ:
- Mạch ngừng giữa hai đợt đổ.
- Khe co giãn, khe lún và khe tiếp giáp.
- Cổ ống cấp thoát nước, ống điện xuyên sàn.
- Góc chân tường, góc hộp kỹ thuật.
- Vị trí tập trung cốt thép khiến bê tông khó lọt vào.
- Khu vực có nguy cơ mất nước nhanh do nắng, gió hoặc nền hút nước.
Đánh dấu từ trước để có phương án. Đừng đợi đến lúc tháo cốp pha, thấy rỗ tổ ong rồi mới lấy vữa trám quét qua loa. Cái gì bị bỏ quên trong lúc đổ bê tông thường sẽ quay lại đòi tiền sửa chữa sau này.
Dùng quá liều: thêm hóa chất không đồng nghĩa với thêm chống thấm
Tâm lý “thêm một chút cho chắc” rất phổ biến ở công trường. Với phụ gia bê tông, đó là thói quen phải bỏ.
Dùng quá liều lượng so với khuyến cáo có thể gây nứt bề mặt, làm suy giảm cường độ hoặc làm mất tính kết dính của bê tông. Hỗn hợp có thể bị thay đổi thời gian đông kết, khó hoàn thiện, tách nước hoặc phát sinh các khuyết tật mà lúc mới đổ chưa nhìn thấy.
Đặc biệt, không được lấy định mức của phụ gia giảm nước siêu dẻo để áp vào phụ gia chống thấm. Dòng phụ gia giảm nước siêu dẻo thường được tính theo tỷ lệ khoảng 0,5–1,5% khối lượng xi măng trong cấp phối, nhưng đây là khoảng tham khảo cho nhóm sản phẩm và mục đích cụ thể, không phải công thức chung cho mọi loại hóa chất chống thấm.
Một can phụ gia có thể được tính theo thể tích khi đóng gói, nhưng định mức kỹ thuật lại dựa trên khối lượng xi măng. Hai cách tính này không được nhập làm một. Nhà thầu phải biết trong một mét khối bê tông có bao nhiêu xi măng, độ sụt yêu cầu bao nhiêu, sản phẩm dùng cho mục đích nào và nhà sản xuất cho phép khoảng định lượng ra sao.
Khi cần kiểm soát phụ gia, tôi thường yêu cầu ghi lại những thông tin sau cho từng mẻ:
- Mác hoặc cấp cường độ thiết kế của bê tông.
- Khối lượng xi măng trong cấp phối.
- Loại phụ gia và mã sản phẩm.
- Lượng phụ gia thực tế đã đưa vào.
- Thời điểm trộn phụ gia.
- Độ sụt trước khi bơm và tình trạng hỗn hợp sau vận chuyển.
- Thời gian bắt đầu đổ, thời gian hoàn thiện và phương án bảo dưỡng.
Nghe có vẻ nhiều giấy tờ, nhưng còn nhẹ hơn rất nhiều so với việc đục cả sàn để tìm đường nước. Công trình càng lớn, càng cần ghi chép. Không phải để làm đẹp hồ sơ mà để khi bê tông có vấn đề, đội thi công biết vấn đề bắt đầu từ đâu.
Dấu hiệu cấp phối hoặc thi công đang có vấn đề
Không phải mọi dấu hiệu đều chỉ ra lỗi do phụ gia, nhưng chúng là cảnh báo cần dừng lại kiểm tra:
- Bê tông tách nước mạnh sau khi đầm.
- Bề mặt xuất hiện lớp hồ yếu, dễ bở hoặc dễ bong.
- Bê tông mất độ sụt quá nhanh, khó bơm và khó miết.
- Thời gian đông kết thay đổi bất thường so với các mẻ trước.
- Bề mặt nứt sớm, nứt chân chim dày hoặc co ngót rõ rệt.
- Cốt liệu bị phân tầng, góc cốp pha có lỗ rỗng và rỗ tổ ong.
- Lớp vữa sửa chữa hoặc lớp cán phía trên không bám vào nền.
Gặp những dấu hiệu này, đừng đổ thêm hóa chất để chữa cháy nếu chưa xác định nguyên nhân. Cách làm đó chỉ khiến hiện trường rối hơn.
Bảo dưỡng ẩm tối thiểu 7 ngày: phần việc hay bị bỏ quên nhất
Phụ gia chống thấm bê tông không hoạt động tách rời khỏi quá trình thủy hóa xi măng. Muốn các phản ứng trong bê tông diễn ra đầy đủ, kết cấu phải được giữ ẩm và bảo vệ trong giai đoạn đầu.
Bê tông sau khi đổ có trộn phụ gia vẫn cần được bảo dưỡng ẩm thường xuyên trong thời gian tối thiểu 7 ngày. Đây không phải việc phụ, càng không phải việc làm khi có thời gian rảnh. Nếu bề mặt mất nước quá nhanh, lớp ngoài co ngót trước, dễ hình thành nứt nhỏ và làm giảm chất lượng vùng bê tông bảo vệ.
Quy trình tại công trường phải bắt đầu ngay sau khi bề mặt đủ ổn định để không bị rửa trôi hoặc phá hỏng lớp hoàn thiện. Tùy vị trí, có thể dùng phương án che phủ, tưới ẩm, giữ ẩm bề mặt hoặc kết hợp các biện pháp bảo vệ phù hợp. Mục tiêu là không để bề mặt khô trắng, nóng rát và mất nước liên tục.
Tôi thường nhắc anh em thi công chú ý bốn giai đoạn:
Trước khi đổ
Làm sạch cốp pha, kiểm tra độ kín của ván khuôn, chuẩn bị đường đi của xe bơm và nhân lực đầm rung. Những vị trí khó tiếp cận phải có phương án từ trước. Đừng đổ xong mới phát hiện góc chân tường không có chỗ đưa dùi vào.
Trong khi đổ
Kiểm soát chiều cao rơi, tránh để hỗn hợp phân tầng. Bơm theo trình tự hợp lý, đầm đủ nhưng không lạm dụng. Với khu vực cốt thép dày, phải quan sát khả năng bê tông len vào từng khoang, không chỉ nhìn mặt trên đã phẳng là cho rằng bên dưới đã đặc.
Sau khi hoàn thiện
Che chắn bề mặt khi có nguy cơ mất nước nhanh. Không kéo lê dụng cụ làm xước hoặc phá lớp mặt. Không tưới nước mạnh ngay khi bê tông chưa đủ ổn định. Bề mặt đã hoàn thiện phải được giữ trong trạng thái ẩm phù hợp, không để khô rồi mới tưới bù.
Trong thời gian bảo dưỡng
Duy trì việc giữ ẩm tối thiểu 7 ngày theo yêu cầu của hệ bê tông. Các mép sàn, góc tường, phần nhô ra và khu vực tiếp xúc trực tiếp với nắng thường khô trước, cần theo dõi riêng. Nếu chỉ tưới giữa sàn mà bỏ quên chân tường, hiệu quả bảo dưỡng vẫn không đồng đều.
Bảo dưỡng kém không chỉ làm giảm cường độ. Nó còn làm tăng nguy cơ nứt bề mặt, khiến nước có thêm đường đi. Khi đó, nhà thầu có thể đã mua phụ gia tốt nhưng kết quả vẫn không đạt vì phần việc quyết định lại nằm ở nước, đầm và thời gian giữ ẩm.
Vì sao phụ gia không thay thế được màng chống thấm?
Màng chống thấm chuyên dụng và phụ gia trộn khối làm hai nhiệm vụ khác nhau.
Phụ gia nằm trong bê tông, tác động đến độ rỗng, khả năng hút nước và đường truyền ẩm bên trong vật liệu. Màng hoặc lớp phủ chống thấm nằm trên bề mặt, tạo một lớp cản nước liên tục. Một số hệ còn có độ đàn hồi để theo được chuyển vị nhỏ và các vết nứt trong giới hạn cho phép.
Sàn mái, sân thượng và ban công là những vị trí thể hiện rõ giới hạn này. Các khu vực đó chịu nắng, mưa, dao động nhiệt độ, co ngót và chuyển vị nền. Nếu chỉ trông vào phụ gia chống thấm trong bê tông, nhà thầu đang bắt một vật liệu cứng làm công việc của một lớp bảo vệ có khả năng biến dạng. Khi kết cấu nứt, phụ gia không thể kéo giãn để phủ qua vết nứt.
Với khu vực chịu áp lực nước lớn hoặc có nguy cơ co giãn, phương án thường phải kết hợp:
- Bê tông có cấp chống thấm phù hợp.
- Xử lý mạch ngừng bằng vật liệu và chi tiết chuyên dụng.
- Gia cố cổ ống, góc chân tường và các vị trí xuyên kết cấu.
- Trám khe nứt hoặc khe co giãn bằng vật liệu phù hợp với độ chuyển vị.
- Thi công lớp chống thấm bề mặt khi điều kiện kết cấu yêu cầu.
- Bảo vệ lớp chống thấm bằng lớp cán, vữa hoặc hoàn thiện thích hợp.
Không có một can phụ gia nào thay thế được toàn bộ những bước đó.
Khi nào nên dùng kết hợp?
Với tầng hầm, bể chứa nước, hố pit, tường chắn và các kết cấu tiếp xúc với nước lâu dài, dùng phụ gia trong bê tông có thể giúp giảm tải cho hệ chống thấm bề mặt. Nhưng phần mạch, khe và chi tiết vẫn phải làm riêng.
Với sàn vệ sinh, ban công hoặc khu vực có lớp hoàn thiện phía trên, phụ gia trộn khối có thể hỗ trợ giảm hút nước, còn lớp chống thấm bề mặt chịu trách nhiệm tạo mặt cản nước liên tục.
Với sân thượng lộ thiên, không nên mặc định rằng bê tông đã có phụ gia thì không cần lớp bảo vệ phía trên. Hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào chất lượng bê tông, nguy cơ nứt, cấu tạo mái và việc nước có bị đọng lâu hay không. Nếu khu vực có chuyển vị hoặc nứt do co giãn nhiệt, cần một hệ chống thấm có khả năng xử lý đúng dạng chuyển động đó.
Quy trình tôi thường yêu cầu nhà thầu chốt trước khi đổ
Muốn dùng phụ gia chống thấm cho đúng, anh em thi công nên chốt phương án theo trình tự, thay vì đến công trường mới xử lý từng chuyện.
1. Xác định nước sẽ tác động vào đâu
Nước thấm từ ngoài vào hay từ trong ra? Kết cấu nằm dưới đất, tiếp xúc với nước ngầm, hay chỉ chịu mưa? Áp lực nước có liên tục không? Có yêu cầu chứa nước sạch không? Những câu hỏi này quyết định việc dùng phụ gia, lớp phủ, màng, băng cản nước hay kết hợp nhiều lớp.
2. Tách thân bê tông khỏi các điểm yếu
Vẽ hoặc đánh dấu mạch ngừng, khe co giãn, cổ ống, chân tường và góc giao nhau. Đây là những chỗ cần chi tiết riêng. Đừng gom tất cả vào một câu “đã chống thấm bằng phụ gia”.
3. Chốt loại sản phẩm
Phụ gia chống thấm bê tông tươi, phụ gia giảm nước, chất hỗ trợ bơm và vật liệu cho vữa không phải một loại. Sika có nhiều dòng cho các mục đích khác nhau. Nhà thầu phải đối chiếu đúng tài liệu kỹ thuật của sản phẩm, không lấy kinh nghiệm từ một công trình khác áp thẳng sang công trình mới.
4. Thử cấp phối và kiểm soát định lượng
Tính theo khối lượng xi măng trong cấp phối. Đong bằng dụng cụ ổn định. Không dùng nắp chai, xô nhựa hoặc ước lượng bằng mắt. Nếu phối hợp nhiều loại phụ gia, cần kiểm tra tính tương thích và ảnh hưởng đến độ sụt, thời gian ninh kết, khả năng bơm cũng như cường độ.
5. Tổ chức đổ liên tục ở các vùng quan trọng
Mạch ngừng phát sinh ngoài dự kiến là một nguồn rủi ro lớn. Nếu bắt buộc phải dừng, phải xử lý điểm dừng có chủ đích, không để bê tông chết ở vị trí bất lợi như giữa sàn, tại chân phễu thu hoặc ngay vùng xuyên ống.
6. Đầm, hoàn thiện và bảo dưỡng đúng lúc
Không đợi bê tông cứng mới nhớ đến bảo dưỡng. Không dùng thêm nước để chữa độ sụt. Không xoa mặt quá mạnh khi bê tông còn tách nước. Những thao tác tưởng nhỏ này quyết định lớp bê tông ngoài cùng có đặc chắc hay không.
Phụ gia chống thấm có phải khoản chi bắt buộc?
Không phải công trình nào cũng cần cùng một mức đầu tư cho phụ gia và lớp chống thấm. Nhưng công trình nào có nguy cơ nước xâm nhập thì đều cần một phương án rõ ràng.
Nếu kết cấu khô ráo, ít chịu nước và yêu cầu chống thấm không cao, phụ gia có thể không phải hạng mục bắt buộc. Nếu là tầng hầm, bể nước, sàn vệ sinh, tường chắn hoặc khu vực nằm dưới mực nước, bỏ qua giải pháp chống thấm từ đầu thường là cách tiết kiệm sai chỗ.
Chi phí mua hóa chất chỉ là một phần. Phần tốn kém hơn nằm ở nhân công đục phá, xử lý thấm ngược, tháo lớp hoàn thiện, sửa trần, di dời thiết bị và chờ khô lại để thi công. Công trình đang vận hành còn phát sinh thêm tranh chấp giữa chủ đầu tư, nhà thầu bê tông và đội chống thấm.
Vì vậy, câu hỏi đúng không phải là “có nên dùng phụ gia chống thấm hay không”, mà là:
- Kết cấu đang chịu loại tác động nước nào?
- Bê tông cần đạt mức chống thấm ra sao?
- Vị trí nào có nguy cơ nứt hoặc chuyển vị?
- Phụ gia đang giải quyết lỗ rỗng hay nhà thầu đang kỳ vọng nó vá cả khe nứt?
- Hệ bề mặt, mạch ngừng và chi tiết xuyên sàn đã được tính cùng chưa?
Trả lời được những câu này, nhà thầu mới biết nên dùng phụ gia, dùng loại nào và kết hợp với giải pháp gì.
Kết luận: phụ gia là lớp bảo vệ, không phải lời miễn trừ cho thi công cẩu thả
Phụ gia chống thấm bê tông có tác dụng thật. Nó giúp giảm lỗ rỗng, hạn chế đường truyền ẩm và nâng khả năng bảo vệ khối bê tông khi được đưa vào đúng cấp phối. Các cấp B6, B8, B10, B12 hoặc W6 đến W12 cho thấy yêu cầu chịu áp lực nước, nhưng con số trên hồ sơ không thể che lấp mạch ngừng rỗ, cổ ống hở, bê tông bị phân tầng hay bề mặt nứt.
Với bê tông tươi, phải kiểm soát từ trạm trộn đến lúc bảo dưỡng. Với vữa và lớp kết nối, phải dùng đúng sản phẩm, đúng tỷ lệ; SikaLatex thường được pha theo tỷ lệ 1 lít với 3 lít nước trong các ứng dụng phù hợp, nhưng không được lấy tỷ lệ đó làm công thức chung cho bê tông. Với phụ gia giảm nước siêu dẻo, khoảng 0,5–1,5% khối lượng xi măng chỉ là định mức tham khảo cho đúng nhóm sản phẩm, không phải con số áp cho mọi hóa chất.
Nhà thầu cũng phải nhớ: bê tông có phụ gia vẫn cần bảo dưỡng ẩm tối thiểu 7 ngày. Sàn mái, sân thượng và khu vực chịu co giãn, nứt kết cấu hoặc áp lực nước lớn vẫn có thể cần màng hoặc lớp chống thấm bề mặt chuyên dụng.
Tôi nhắc anh em thi công lần cuối: đừng đổ thêm hóa chất để bù cho một quy trình bị làm ẩu. Hãy vệ sinh, định lượng, đầm, miết, xử lý mạch, gia cố cổ ống và bảo dưỡng cho đủ. Phụ gia tốt chỉ phát huy khi người thi công biết mình đang chống lại đường nước nào.